Dạ tiệc quỷ - chương 3: Cưỡng hiếp một đôi chân

Võ Thị Hảo

Bạn đọc thân mến, Dạ Tiệc Quỷ là tiểu thuyết của nhà văn Võ Thị Hảo viết về một thời kỳ đầy biến động và đau thương trong lịch sử Việt Nam từ những năm 1954 đến nay.

Chết!

- Nó chết thật?

- Nó cả gan chết ?

- Nó dám treo cổ?

Ông Dậm lẩm bẩm như mê sảng.

Ngoái nhìn gương mặt vã mồ hôi lạnh, tái xanh tái tử của Lình. Cái thây đang đung đưa trước mặt nhoè đi. Hiện lên một cái thây khác. Trong tiếng chân chạy rậm rịch, tiếng la hét ắng nghẹn của ai đó. Cũng là thây người thắt cổ. Một thây khác. Còn ấm nóng. Mũi giày thêu đập vào mặt ông. Đôi giầy ấy, đêm hôm trước, ông đã nhìn thấy, đã nhớ. Và nhớ rất rõ.

Không, ông nhớ rõ cái đôi chân nhỏ xíu, trắng xanh, lồng quyền quý trong đôi giấy gấm này. Giầy gấm kết cườm thêu chỉ bạc.

Ông đã cưỡng hiếp đôi chân ấy. Lấy hai bàn chân đã chết cứng ấy mà cọ vào dương vật của ông cho đến khi ông gào rú lên.

Ông đã gào rú lên vì khoái cảm khi nhìn thấy đôi chân nhỏ xinh như hai chiếc lá bươm bướm bạc nắng. Đôi chân ông đã trộm nhìn thấy, thấp thoáng ẩn hiện dưới gấu váy lĩnh óng chuốt trong những dịp bà Cử cùng cô Phượng đi phát chẩn.

Con mắt ông Dậm hoăm hoắm theo đôi chân từ hôm ấy, thấy bụi đất bám vào đế giày gấm mà tiếc của, rồi ông nghĩ ngược lên, ông mường tượng ngược lên bắp chân, từ bắp chân ngược lên đầu gối rồi từ đầu gối ngược lên đùi và lên cao, cao nữa. Nhưng ông Dậm chịu thua, không mường tượng nổi. Cả đời ông chưa được nhìn thấy một cái gì đẹp đẽ như bà Cử và Phượng.

Không thể biết nó tròn méo ra sao, ông điên cuồng muốn được nhìn thấy. Điên cuồng muốn đập nát cả túp lều và gốc cây cổ thụ cả chín sinh mạng nhà ông nương thân. Để thoả thuê tốc cái váy lĩnh lên, nhìn chằm chặp vào cặp đùi lạ lẫm, cưỡng hiếp cả hai cái người có đôi chân như đôi lá bươm bướm ấy. Rồi thì đôi chân đi giầy ấy thõng xuống, tái nhợt, đung đưa ngay cửa giữa ngôi nhà lớn mà ông vừa cướp được của ông Cử. Cái thây thắt cổ ấy đập thẳng vào mũi ông lúc gà gáy.

Lúc gà gáy, ông hùng hổ dẫn đầu một đàn bảy đứa con và vợ, rời túp lều lá ngoài bờ sông, tay cuốc tay thuổng xông vào. Ông lại gào thét xỉ vả mấy đứa con cầm xà beng, cầm cào, dao phay dao phát đang chần chừ phải,phá tung cánh cổng chính, đập vỡ nát cánh cửa gỗ lim của gian chính điện, xông vào.

Cái thây còn ấm nóng, vừa treo cổ chết, đập vào mặt ông đêm ấy là của bà Cử. Người đàn bà có đôi chân đã bị ông cưỡng hiếp tối hôm qua.

Và ngày hôm qua cũng là ngày óc ông Cử đã bị loạt đạn súng kíp tự chế bắn vãi tung ra ngoài ruộng mạ.

Cánh cửa gỗ lim nhà ông Cử chắc chắn đến mức bà Cử kịp treo mình lên xà nhà và tắt thở trước khi ông Dậm cùng đàn con phá xong cửa, hằm hè xông vào.

- Nhà nó có mả thắt cổ.

Như bị đánh trúng gáy, ông Dậm vục mặt vào tường. Đôi vai xệ xuống. Nhưng chỉ trong chốc lát, ông Dậm đã hồi lại. Ông thét:

- Nhà lũ bóc lột có mả ăn cắp. Mả thắt cổ.

Ông lại lẩm nhẩm, mặt tươi lên:

- Đó là con đường tất yếu của những kẻ bóc lột. Cán bộ đội đã phổ biến thế! Quả thật người nói mà như thần nói, không sai một ly.

Ông Dậm lại vồ lấy chiếc cào phân lợn bên cạnh, lăm lăm trong tay, huơ lên đầu Lình:

- Thế cái lũ bóc lột phản động nó kêu gào cái gì bậy bạ trước khi nó chết? Mày nghe gì?

Lình nhìn bố, mắt đỏ đọc:

- Nói bố nghe, lại chửi mất mả.

- Nói! Mày phải nói!

- Bố muốn à?

- Mày không nói, tao đập chết!

- Thôi được. Bố muốn đập chết thì cứ đập. Tôi cũng chẳng thiết sống.

Mẹ Cả bảo: nghe mẹ trẻ gào lên: Tao chết đi nguyện làm giống quỷ, báo thù cho cha mẹ họ hàng chết thảm.Vô phúc. V... ô... ph... ú... c.

- Khốn nạn!

Ông Dậm ngồi bệt xuống đất. Chốc lát, quay ra, mắt long sòng sọc:

- Con mẹ già mày đâu? Nhìn thấy nó thắt cổ mà không ngăn lại. Rặt một

lũ chó chết!

Ông Dậm thét. Chiếc cào phân vung lên, đập đánh hự vào đầu Lình.

Lình choáng váng ngồi thụp xuống. Không kêu la. Nét mặt không động.

Chuyện cơm bữa.

Ông Dậm không đập bất cứ cái gì vớ được trong tay, bất cứ lúc nào, vào đầu cậu mới là chuyện lạ.

Cung cách ông Dậm đập cái gì đó vào đầu Lình thật diệu nghệ. Giống như con rắn đang bò êm ru trên cỏ như đang bỏ đi, như đang mơ màng tận bên kia bờ ao, bỗng thình lình quay ngoắt lại mổ một phát chí tử vào con nhái.

Như một người tiện tay quẳng đi miếng vỏ cam vừa bóc xong. Những chiếc răng của chiếc cào phân không trúng đầu, sượt qua má, để lại một vệt xước chạy từ thái dương xuống mũi. Đôi mắt xếch của Lình lại lần nữa toé lửa.

Từ khi biết chạy trên những gốc rạ nhọn để lùa vịt hay chăn trâu thuê, bấu chân trên mặt đường làng trơn trượt, mọi lỗ chân lông dựng đứng, cố bám níu đường trơn cho khỏi ngã vập mặt, vai bị dây thừng siết tướp đỏ máu, cố trì kéo những bó cỏ to gấp năm lần cái thân còm cõi, Lình không nhớ rõ đã bao lần cậu toan giết bố.

Mỗi sáng, vừa mở mắt, Lình lại đứng dậy, quay mặt về hướng đông, nhìn mặt trời bắt đầu ló chùm tia trên rặng ổi xanh mốc ở Bụi Thằng Quỷ. Lình nhổ nước bọt lên lòng bàn tay trái, dùng bàn tay phải đập bép một nhát cho thiêng.

Lình quỳ xuống khấn.

Khấn rằng ngày hôm nay, ông Trời có thương Lình thì xin hãy cho sét đánh chết tươi cậu và ông bố của cậu. Khấn rằng trời hãy giết ông Dậm chết đi, chết ngay, cho ông không thể ác với cậu, mẹ cậu và mọi người được nữa.

Lình mong mỏi được nhìn thấy ngày ông Dậm chết do bàn tay ông trời. Lình khấn: Tôi nói dứt khoát với trời đây này! Nếu trời không giết bố tôi hoặc giết tôi, tôi sẽ giết bố!

Nước mắt Lình chảy mặn xót trên đôi má chi chít vết thương. Vết thương mới chồng lên vết cũ. Từ những cú đánh bất thình lình của ông Dậm.

Thường thường Lình chuẩn bị giết bố vào khoảng nửa đêm.

Khi sau một ngày Lình mệt nhoài, chân đầy vết đỉa cắn. Những dòng máu chảy ra miệng những cái vết thương tròn ghê tởm, nhờn nước dãi và nọc độc từ cái miệng hút máu của lũ đỉa. Nếu không biết bóc lá nón cũ ra mà dán vào, máu trong người sẽ cứ rỉ ra mãi. Máu nơi chân Lình đã được cầm lại bằng nước miếng và lá nón, đen bầm loang lổ dọc bắp chân.

Những đêm Lình thốt tỉnh sau một giấc ngủ ngắn, người đầm đìa mồ hôi lạnh, là lúc Lình lủi như một con chó dại vào xó buồng, mắt cũng vằn những tia máu như mắt chó dại.

Bà Cả nhiều lần trông thấy thằng Lình - con cả của bà, nửa đêm chồm dậy, mắt long sòng sọc, ôm đầu chui vào xó buồng, miệng lảm nhảm vừa rên khóc vừa chạy tới chỗ chiếc áo của bố nó vắt trên sào, giật lấy rồi dùng hai tay gồng lên vừa vặn, xoắn, vừa rú lên như bóp cổ ai đó.

Kết thúc những cơn mê sảng ấy, đứa con cả của bà lại lăn ra ngủ. Bà đến gần, thấy một vết thương mới trên đầu trên mặt Lình. Những vết thương đó chẳng lần nào giống lần nào. Lúc tròn lúc méo. Lúc rộng lúc hẹp.

Bà thuộc lòng hình thù của các loại vết thương trên đầu Lình.

Bởi vì, trên người bà, cũng đầy những vết thương với hình thù đa dạng như vậy.

Nó tuỳ thuộc vào kích thước và loại đồ vật nào mà ông Dậm vớ được lúc ông đột nhiên lên cơn tức giận và ông lập tức trút vào đầu một ai đó.

Đương nhiên, người gần ông nhất là người được tận hưởng.

Có điều khác với thằng con cả, những vết thương của bà hội họp nhau ở hỗ khác. Không ở trên đầu.

Đó là khu vực vú và cửa mình.

Bầm tím. In những ngón tay xoắn vặn, máu ri rỉ chảy.

Đó là đặc ân của người chồng dành cho vợ.

Ông Dậm cho rằng vợ là một loại gia súc không phải nuôi, thậm chí nó còn nuôi lại mình và lũ con. Vợ mang hình thù của con người, bị xích bằng trăm ngàn sợi dây chắc hơn dây thừng lông lợn. Nhược điểm duy nhất của vợ kém loài gia súc, là không đem mổ thịt được nhưng bù lại, không có loài gia súc nào sống lâu như thế.

Ban đêm, trong ngôi nhà lớn, im rợn, lạnh lẽo của ông Cử, mẹ con bà Cả và Lình cùng những đứa con khác tận hưởng mộng mị và thế giới của riêng mình.

Bà Cả cũng vụng trộm một mơ tưởng giết chồng.

Sở dĩ bà sống được vì giấc mơ ấy.

Nhưng khi mặt trời lên, mọi thứ đổi khác.

Những tia mặt trời xuyên qua nhà này sau một đêm chật chội ác mộng đã mang màu xanh lét. Và gương mặt bà Cả, Lình cùng sáu đứa còn lại cũng chuyển màu theo.

Một sự phục tùng vô điều kiện. Một sự luồn cúi thảm hại hoàn toàn xâm lấn gương mặt bà Cả.

Bà lom lom lo sợ nhìn mặt bạo chúa của bà. Chỉ cần ông chồng nhếch mép, bà sẵn lòng chiều ý và sẵn lòng bò xuống đất để ông khỏi nổi giận.

Bà nể sợ, thậm chí hãnh diện vì ông Dậm của ngày hôm nay khác hẳn ông Dậm của một năm trước. Trước đây, ông bị cả làng gọi là phường khố rách áo ôm. Thì nay, ông oai phong. Mỗi lần ông đi qua, cả làng cúi mặt. Nếu ai không tránh được thì lại xoăn xoe luồn lọt.

Cả một đời đói rạc đói rài. Nếu trước đây mùa giáp hạt nào cả nhà bà cũng lo chết đói, thì nay, bà chỉ ngồi một chỗ cũng thu được ối thứ. Những kẻ đánh dậm hay đặt lờ bắt lươn, mang nơm đi đơm cá, khi mò lên bờ, việc đầu tiên phải làm là lựa những con lươn, con cá to nhất cho vào một giỏ, đem đến nhà ông Dậm trong khi quần áo còn ướt lướt thướt.

Mà ai cũng biết, đem đến nhà ông là phải lựa lúc. Cái lúc ông Dậm và cán bộ đội cải cách đang ở nhà, để nhìn thấy món quà biếu của họ. Bở vì, nếu không, rất có thể bà Cả nhanh tay mang ra chợ bán trộm mà ông Dậm không biết. Vì cả làng ai cũng thuộc tính ông Dậm.

Dù đã có được một ngôi nhà lớn với nhiều của chìm, bản thân hút điếu bát vàng chiếm được của ông Cử, sáng rượu trưa rượu tối rượu, nhưng ông Dậm vẫn giả nghèo giả khổ, bắt vợ con phải mặc áo rách, ăn cơm độn ba phần khoai hai phần rau má.

Lình cũng vậy, khi mặt trời mọc.

Mặt trời lên độ con sào, Lình đã cày được áng chừng một phần ba thửa ruộng. Con trâu được chia “quả thực” cũng từ chuồng trâu của ông Cử đã bắt đầu thở hồng hộc, trở chứng không muốn bước, thì trở đường cày, đã thấy bố ngật ngưỡng đi ra ruộng, miệng còn nồng nặc hơi bữa rượu buổi sáng.

Ông Dậm đứng đầu bờ, tay chống nạnh, bắt đầu quát tháo bắt bẻ đường cày sao không thẳng, sao mày cày được ít thế. Sao tao đẻ ra mày, tao chăm chỉ đầu tắt mặt tối, làm hộc tốc dốc gan mửa mật mà mày lười chảy thây, ngủ ươn xác, sắp đứng ngọ rồi mà chưa được ba đường cày.

Ban ngày, hễ thấy bóng ông bố là Lình giật thột, co rúm lại. Căm và sợ. Nỗi sợ lâu ngày thành quen, như con nhái tê điếng đi khi nhìn thấy con rắn.

Tê điếng thế này, là thói quen từ năm Lình lên năm tuổi đến bây giờ. Lình lên năm, ông Dậm mang Lình đi đánh dậm. Nước ngập đến cằm, có lúc lút cả đầu sắp chết đuối vẫn  hải lội xuống vì sợ bố. Mỗi lần Lình sơ ý để sổng một con cá to cỡ nửa bàn tay hoặc vào mùa đông rét căm căm, Lình cố ngủ nướng không thức dậy đúng giờ Tý để đi cất vó tôm, ông Dậm thộp ngực áo cậu, đấm đá tận lực, đến lúc đứa con còm cõi rũ ra như một miếng giẻ rách và ông mệt thở hổn hển mới thôi.

Trước năm mười bốn tuổi, Lình là một đứa trẻ thất thần, thường run như giẽ, nghe tiếng ai nói to là muốn lăn ra chết giấc... Mỗi khi bố đấm đá đau quá, Lình còn biết ôm chân bố van lạy, nước mắt lã chã.

Nhưng đến mười bốn tuổi rưỡi, khi chỏm tóc chạm mái lều, ra vào cửa đều phải cúi đầu, người nhà ngạc nhiên nhìn thằng Lình.

Nó đã trở thành một người khác. Nó trở nên dạn đòn. Nếu ông Dậm nổi cơn đấm đá, nó không kêu khóc, không van xin, chỉ đứng nhìn trân trân ra phía rặng ổi. Miệng thầm khấn mặt trời.

Khi thằng Lình không biết lạy bố nữa, ông Dậm từ đấm đá chuyển sang thói đập và đạp.

Hễ trong tay cầm cái gì là ông đập luôn vào đầu thằng con cả. Nhiều lần ông đập chày hoặc gạch vỡ, thằng Lình có nhanh nhẩu nghiêng người tránh được không chết nhưng cũng tạt ngang mặt, máu chảy luễ loã.

Thực ra Lình không chết là bởi ông Dậm đập cũng có nghề như bố ông trước đã từng đập ông. Ông bố vừa đập vừa giảng giải: tao đập mày là để tao dạy mày. Sau này mày phải thờ tao cả đời vì mày đã được bố mày đập đấy con ạ. Thương cho roi cho vọt. Các cụ dạy thế. Tao đập mày đau nhưng không phạm chỗ hiểm, vì để mày sống, còn có thằng cày ruộng, thằng chống gậy.

Trong những trận bị đòn, ông Dậm đã bao lần nghiến răng thầm nghĩ, sau này có con, ta quyết không bao giờ đánh con, vì ta đã bị bố ta đánh đập như con chó con trâu, ta muốn giết bố ta. Để con ta sau này không giết bố, ta sẽ không đánh đập chúng. Nhưng khi đã có con, ông Dậm bỗng sinh thói đánh đập vợ con tàn tệ. Nhiều khi nhìn thằng Lình hoặc vợ máu chảy ròng ròng, ông Dậm cũng thoáng ân hận, nhưng rồi sau lại đâu vào đấy.

Lình cũng quen dần, đã biết luyện miếng nghiêng đầu né đòn. Có thể tránh những cơn điên giận có báo trước, khi thấy mặt ông Dậm sầm sì. Nhưng những cơn nổi điên bất thường của ông thì không biết đường nào mà lần.

Đôi lúc, nhìn máu trên đầu con chảy xuống má thành dòng, bà Cả xót con gào khóc, quên cả sợ, liều mạng lôi cả tông cả giống nhà ông Dậm ra mà chửi. Thế là ông Dậm sấn vào, túm tóc vợ tát liên hồi kỳ trận. Nhiều lần, ông lột truồng vợ trước mặt con, quấn tóc bà vào cây cau, trói bêu cả đêm phơi sương.

Đàn con xót mẹ, lấy áo rách đắp cho mẹ, xấu hổ nhục nhã trước xóm giềng, kêu khóc như ri. Ông Dậm vồ lấy chiếc roi tre. Một trong bảy chiếc roi tre hong mồ hóng dẻo quánh, không thể gẫy được, đã lên nước bóng loáng. Ông cần roi quất vung vít. Cả lũ bỏ mẹ lại bên gốc cau, chạy tán loạn.

Hôm đó, ông sẽ ngồi uống rượu và chửi ba ngày liền, không đánh dậm, không đi cày, ngồi kẹp lấy hũ gạo và chum khoai khô đặt trong buồng. Cả mấy đứa con đói meo sợ mất mật, không dám bén mảng đến cửa buồng, đành đợi đến khi bố say ngã lăn ra cửa buồng rồi mới dám ra gốc cau cởi trói cho mẹ.

Bà Cả được cởi trói. Toàn thân bà tê phù, đổ sụp xuống gốc cau, tóc bị giật đứt một nhúm, thân mình chằng chịt vết dây trói. Bà không còn nước mắt để khóc, nằm gục  uống gốc cây một chốc, rồi lê ra vườn nhặt lá nhọ nồi nhai nát đắp vào vết thương trên đầu Lình và dịt vào những lằn roi rớm máu trên người bà.

Ông Dậm vẫn nằm trấn giữ hũ gạo và chum khoai khô trước cửa buồng, cằm vểnh lên trời như một bắp ngô rậm rạp và ngáy như kéo gỗ. Mấy mẹ con đành lếch nhếch kéo nhau ra đồng nhặt rau má và đào khoai ăn sống cầm hơi.

Võ Thị Hảo

Đọc tiếp Chương 4