Dạ tiệc quỷ – chương 6: Đường con gái

Võ Thị Hảo

- Một hai ba bốn năm sáu bảy tám.
- Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười mười một…
Người đàn bà ngồi đếm những bức ảnh.
- Một hai ba.
Một là gương mặt đàn ông thô thiển, ụ thịt, võ biền, hai lỗ tai xếch ngược. Đôi mắt nhìn bẩn đục như mắt lợn. Bắp tay ụ những thịt.
Ảnh của một Trưởng phòng Công an huyện.

 

 

 


Bây giờ thì vị Trưởng phòng này đã trở thành một người điên lang thang không biết nơi nào là nhà.
Người đàn bà mỉm cười.
Đó là một trong ba gã đàn ông đã hiếp cô bé trên bàn thờ đến chết.
Gã là một trong những kẻ mắc bệnh bạo dâm. Những kẻ có sở thích khủng khiếp là phải cào, cắn, dùng dây điện trói và đánh đập đàn bà khiến cho người đó phải đau đớn lăn lộn rên xiết, vãi máu ra đất rồi mới hành sự trong tiếng rên siết đó để hưởng

cực khoái.
Gã là một trong ba kẻ: một trưởng phòng công an, một Giám đốc Sở Văn hoá, một Chánh văn phòng tỉnh uỷ, cam kết với nhau trong một cuộc nhậu, để chứng minh rằng, trên đời, gã đã ngủ với nhiều đàn bà, kể cả gái trinh và gái vị thành niên, nhưng

không gì khoái lạc bằng cái việc ngủ với con gái lạ hoắc, mà phải hành hạ cho đến vãi máu, trong khi trói chặt bằng dây điện, rồi đánh đập tuỳ thích. Và đưa lưỡi liếm và mút máu cùng với nước mắt của nạn nhân, rồi trong khi đó, bên dưới thì cho dương

vật vào, và hành sự trong tiếng rên xiết đau đớn của nạn nhân.
Bởi vì – gã cả quyết – con người ta khi cười cũng giống như khóc, và khi khóc cũng nhe răng giống hệt khi cười. Vì thế, khi đau đớn đến tột đỉnh cũng y hệt như khi sướng đến tột đỉnh. Nhất là khi ta không phải là người chịu đau đớn, mà ta hưởng cái

sung sướng từ bên dưới, từ toàn thân, trong khi tai ta và mắt ta thì nghe cái điệu nhạc rên rỉ và lưỡi ta thì nếm đủ vị vừa máu vừa nước mắt của kẻ mà ta đang làm tình.
Hai gã đàn ông kia há hốc mồm mà nghe, và nuốt nước bọt.
Và một kế hoạch đã được đặt ra.
Bởi vì chúng đã thấy có hai cô bé gái xinh đẹp ngày ngày vẫn qua lại lấy nước gạo và tiếp tế cho ai đó trên con đường đi từ thị trấn tới trại tâm thần. Chúng biết, đó là hai cô bé chuyên bưng bê dọn bàn, rửa bát, chăn lợn trong quán cơm bình dân nhà bà

Cả Bát ở ngã ba phía Bắc thị trấn.
Đó là hai con nhỏ duy nhất mà mỗi lần đám thực khách đưa nhau vào quán chè chén nhậu nhẹt, khi đã ngà ngà say, giở giọng nhả nhớt nói năng tục tĩu, cấu véo, hai đứa liền quắc mắt lên vặc lại rồi lẩn đi. Khi bà Cả Bát mắng, bắt phải vào đưa thức ăn

cho đám thực khách, hai đứa đành phải vào nhưng nhìn đám người say khả ố đó bằng ánh mắt khinh bỉ và căm hờn.
Chính ánh mắt căm hờn đó đã kích động ba vị khách quen khả kính của bà Cả Bát.
Hai cô gái này gầy guộc, chân tay mảnh mai, chưa phát triển hết, nhưng cô lớn hơn trông đã rất đẹp, với cặp mắt dài xếch buồn thăm thẳm, lóng lánh như kim cương, nhìn ai thì không chớp. Mà nhìn như không nhìn người ta, trong mắt chỉ thấy một vệt xa

thẳm của đường chân trời. Đường cong nơi eo và hông lại rất đẹp, như hai nét bút uốn lượn thanh thoát.
Cô bé ít tuổi hơn thì trông còn quá yếu ớt, nhưng trong trắng như một thiên thần. Chân tay cô thô, chứng tỏ con nhà phải làm việc nặng nhọc từ nhỏ.
Hai cô gái nhỏ lúc nào cũng đi cùng nhau. Hai đứa đổi nhau, lúc thì gánh hai thùng nhôm đựng nước gạo, tay luôn xách một cái làn đựng một cái nồi nhọ nhem nhọ thủi, có lẽ là đựng thức ăn cho ai đó trong trại tâm thần và hoa quả, và lúc về, cũng cái làn

ấy, nhưng đã nhẹ tênh, đôi khi có một bộ quần áo lính đã cũ.
Xuất phát từ thị trấn vào khoảng sáu giờ chiều, đến trại tâm thần khoảng sáu rưỡi.
Chúng bắt đầu đi.
- Em về trước đi. Tranh thủ trời sáng mà hái mấy quả bứa mới chín. Kẻo tối rồi không biết đường nào, lội vào bụi rắn cắn cho thì khổ.
Miên dặn Hiền.
- Không, em đợi chị cùng về cơ.
- Em cứ về trước đi cho sớm. Chị ở lại đợi anh Lình thay xong quần áo, hôm nay anh ấy lại lên cơn sợ cơm. Chị phải ở lại thêm một chút.
Hiền ngúng nguẩy ra về. Trước khi về còn ôm lấy chị và áp má vào mặt chị.
- Hôm nọ chị nói là sau này chị em ta sẽ giàu à?
- Nhất định thế!
- Sao cái gì chị cũng cứ bảo là nhất định? Bây giờ chị em mình còn phải ở vỉa hè, nghèo rớt mà.
- Chị không biết sẽ giàu bằng cách nào. Nhưng dù có chết, chị cũng phải làm giàu và thoát ra khỏi nơi này.
- Để làm gì?
- Để chị em mình không bị đói, được đến trường như chúng nó, được có quần áo đẹp. Em xinh lắm! Chị sẽ làm cho em đẹp như tiên, để mọi người phải biết là em gái chị đẹp như thế nào. Phải là người như hoàng tử đến hỏi em thì chị mới gả nhé.

Không phải ai cũng đến làm quen với em gái chị được đâu. Và cần nhất là chữa bệnh cho anh Lình.
- Nếu thế thì thích thật đấy. Nhưng em chẳng tin đâu. Làm sao mà chị có thể làm giàu được
- Chị làm được! Đã bảo dù phải ăn đất ăn sỏi, dù có phải mất đi một mắt một tay, chị vẫn phải thoát ra khỏi đây. Chị phải giàu. Chị phải đẹp như mẹ Phượng. Vì anh Lình bảo, mẹ Phượng, rồi ông bà sinh ra mẹ Phượng, là người vừa giàu, vừa có học,

vừa đẹp. Chị không thể là người kém cỏi. Mẹ Phượng sẽ xấu hổ vì chị.
- Nếu chị giàu, chị có quên em không?
- Không bao giờ, em gái ạ. Ngày nào chị cũng nhớ lại em đã cứu chị khỏi cái ông điên cứ rượt theo chị và đòi ăn thịt chị đêm nào.
- Ừ, cái ông đó thật kinh khủng. May mà em bắt gặp.
Cô bé bật cười khanh khách:
- Em chạy vòng vèo mãi, bẫy cho ông ấy rơi xuống vực. Ông ấy phải nằm dưới vực mà gào thét, mãi sau mới có người đến kéo lên. Ông ấy khoẻ thật. Ông ấy mà đuổi kịp chị, chắc ông ấy ăn thịt thật đấy!
- Đúng là mẹ thương mà đưa em đến cứu chị!
- Thì ngày nào em chẳng phải đi qua đó để lấy nước gạo về cho bà chủ! Em đi lấy vào lúc trại người ta mới rửa bát xong. Muộn mấy cũng phải lấy, nếu để đến mai thì nước gạo thiu mất.
Miên rùng mình:
- Khiếp! Chị nhìn răng ông ấy nhe ra vàng khè mà sợ muốn chết đứng, hai chân cứ bủn rủn bện vào nhau. Này, bây giờ ông ấy vẫn sống trong trại đấy.
- Ôi! Nếu bà chủ của em mà không nuôi lợn, không sai em đi lấy nứơc gạo của trại, thì làm sao em gặp được chị nhỉ?
- May quá! Mẹ Phượng và ông bà chị run rủi cho em đến cứu chị đấy. Anh Lình nói mẹ và ông bà chị chết thảm lắm. Người ta nói người nhân đức mà chết thảm thì thiêng lắm. Em nhìn bàn tay chị này. Bàn tay gầy, ngón quá dài, lòng bàn tay quá rộng. Ông

thầy tướng hôm nọ gặp chị ở chợ, nói rằng con bé này trông lạ quá. Cứ như đức thánh mẫu hiện hình vậy, làm mọi người xúm lại xem, chị xấu hổ gần chết.
- Chị ơi! Chị nhớ là phải thật nhanh giàu vào nhá. Em muốn nhìn thấy chị mặc áo đẹp. Chị đẹp lắm…
Hiền buông tay khỏi người Miên, trước khi đi còn cắn nhẹ chị một cái và cười tít mắt.
Miên nhìn theo bóng Hiền. Cô bé mảnh mai, gầy như liễu, mềm mại, chân tay rất dài, trông tội nghiệp như chú mèo con, như một bông hoa gầy nở trên một đài hoa giản dị vươn dài, đài hoa bạc màu. Cô bé đi tung tăng trong nắng chiều sắp tắt. Gương

mặt sáng rỡ ràng.
Không ai nghĩ cô bé xinh đẹp này là con nhà mồ côi, mỗi ngày vẫn dậy từ ba giờ sáng để nhóm lò và rửa bát, đi lấy nước gạo về chăn lợn cho bà hàng cơm ở phố huyện.
Miên thở ra nhè nhẹ. Cô thấy vui vì nghĩ đến bức ảnh chụp hai chị em hôm nọ, cô đang cất ở góc nhà và ngày nào cũng mang ra ngắm. Cô thấy Hiền thật đẹp, và mình cũng thật đẹp. Cả hai chị em đều rạng rỡ cười. Bà chủ hàng cơm cho hai chị em vài

đồng bạc nhân ngày Tết Nguyên đán, bảo muốn mua gì thì mua. Thế là hai chị em rủ nhau đi chụp ảnh. Hai đứa chụp chung một kiểu, mỗi đứa lại chụp riêng một kiểu, đem khoe bà chủ nhà, bà bảo:
- Hai đứa mày trông thật ngon con mắt. Cố làm lụng đi rồi lớn tao gả chồng cho, ở luôn phố này!
Lình thay đồ dềnh dàng. Chiều nay Lình nôn oẹ liên tục, cứ luôn miệng kêu: “No quá, no quá!”. Miên giục mãi, Lình mới ăn được chút cháo của trại tâm thần và thay xong quần áo.
Miên hối hả bỏ bộ quần áo bẩn vào làn rồi vội ra về. Nắng chỉ còn là vài tia mong manh như sợi chỉ.
Không biết bé Hiền có nhớ hái mấy quả bứa không. Giờ này chắc cô bé đã về nhà lâu rồi. Hẳn là Hiền đã rửa xong bát đĩa và đang vừa tắm dưới gốc cau vừa hát nghêu ngao…
Miên thấy vui vui. Cô nghĩ đến ngày cô giàu có. Không biết bằng cách nào nhưng nhất định cô sẽ giàu có. Cô sẽ chữa bệnh cho anh Lình. Khi cô có tiền, những y bác sĩ và hộ lý ở bệnh viện sẽ không hắt hủi anh cô nữa. À, mà cô sẽ mua cả cái bệnh viện

tâm thần này để chữa cho anh cô. Rồi chữa luôn cả cho cái ông ăn thịt người nữa. Cô sẽ kéo luôn cả những người tâm thần đang lang thang điên dại ngoài đường kia vào nuôi nấng, mặc quần áo cho họ. Trời ơi! Nhiều người điên dại quá. Đi đâu cũng

thấy người điên. Anh Lình bảo ở đây mà không điên mới là chuyện lạ.
Miên rảo bước. Nắng đã tắt hẳn, đường thưa thớt người qua lại. Cô cố bước thật nhanh cho tới quả đồi bên đường có bụi cây bứa. Cô nghĩ rằng mấy quả bứa sắp chín đó nhất định phải là của mình, phải thuộc về mình. Hai chị em cô đã để ý đến nó từ

lúc chúng còn xanh và giấu chúng vào những túm lá để che những con mắt cũng tinh như mắt sáo sậu của lũ trẻ con khác. Quả bứa phải thuộc về chị em cô. Cũng như nhất định cô phải giàu có.
Miên đến gần cây bứa và nhìn lên.
Ba quả bứa, cô nhìn thấy rõ ràng lúc đi, bây giờ vẫn còn một. Trong bóng tối sẫm, cô vẫn thấy nó đung đưa như mời mọc trong chùm lá, như cảm thấy màu vàng ứa mật chua của nó.
Miên nuốt nước miếng. Cô bước vào, vươn tay định hái nốt quả bứa, trong lòng thầm trách con Hiền đoảng quá. Ba quả bứa, chị em đã để dành mãi, chiều nay trước khi về chị còn dặn là lấy cả ba quả, thế mà chỉ lấy hai, còn để sót một. Ba anh em,

chẳng lẽ anh Lình không có quả nào.
Miên vươn tay, kiễng chân níu cành bứa xuống. Cành rung rinh, quả bứa nằm gọn trong tay cô.
Cô mỉm cười, đưa quả bứa lên miệng và lại nuốt nước miếng lần nữa. Cô nhìn xuống chân, thận trọng bước ra để đề phòng gai cào và rắn cắn.
Bỗng cô thấy lăn lóc dưới chân mình một quả bứa chín vàng bị dập nát.
- Trời, con bé này đoảng thật! Đã quên một quả, lại còn để dập một quả nữa.
Thế là ba quả bứa chỉ còn một. Miên nhặt quả bứa lên, xem còn ăn được không, cắn thử cho khỏi tiếc, thì bỗng thấy một quả bứa khác đã bị ai giẫm nát đang lăn lóc trong bụi cây.
Miên thốt kêu lên. Cô bắt đầu thấy rờn rợn khi nhìn thấy dấu giầy chi chít in trên đất đỏ và làm đổ rạp những bụi cây cỏ rậm rạp chung quanh.
Một mùi khai nồng lẫn mùi rượu mang lại vị ghê tởm nồng nặc xông lên đâu đây.
Cái mùi đó Miên biết lắm. Vì cô chạy bàn ở quán phở và cơm bình dân. Những người khách đến ăn, uống rượu, bia, mặt đỏ gay gắt. Họ xếp những thùng bia cao hơn người và thách đố nhau uống bằng hết, vỗ tay tán thưởng mỗi khi có người uống được

mấy cốc một lúc, mỗi lần uống lại hét lên “dô, dô…” và văng tục. Họ giật giải vô địch uống bia rượu bằng cách chốc chốc lại đứng lên đi vào toa – lét, có người không thèm vào cao, đứng ngay cạnh hàng rào mà tia ra, bất kể có người nhìn thấy hay không.

Thấp thoáng bóng hai chị em hoặc bà chủ đi lại, họ lại còn cố tình quay ra để trêu chọc. Có người còn đưa tay móc họng cho nôn ra rồi lại uống tiếp. Trong những câu chuyện của họ, chỉ thấy sự tục tĩu hoặc mánh mung.
Miên quá biết cái mùi đó.
Cô ghê sợ nhìn quanh. Một linh cảm khiến cô sởn gai ốc khắp cánh tay. Cô nhìn chằm chằm vào quả bứa bị đôi giày của ai tàn nhẫn xéo nát.
Quả bứa đã được hái xuống. Mà chỉ có hai chị em cô biết về những quả bứa này. Thế tức là Hiền đã đến đây. Vậy Hiền đâu?
Cô cuống cuồng dáo dác nhìn quanh.
Cô đi theo dấu giầy, tiến đến lùm cây rậm rạp, nơi có quả bứa nhiều dấu giầy xéo nát.
Bỗng thấy một bàn tay ai đang giơ sững giữa lùm cây, sáng mờ mờ dưới trăng, dưới ánh sao hôm lờ mờ rọi xuống từ trời.
Miên như bị hút vào, bước tới.
Cô nhìn thấy một chiếc áo của ai bị xé rách tơi tả đang lay phần phận trên bụi cây.
Chiều nay, bé Hiền cũng mặc áo màu xanh.
Miên như bị nghẹn thở. Cô không dám kêu lên vì một linh cảm hãi hùng đang bóp chặt trái tim cô.
Chân Miên như bị rút gân. Cô phải lết đi trong đám cỏ tranh và bụi cây.
Chợt cô nghe tiếng thở hồng hộc và tiếng gào rú man dại vẳng đến, rất gần.
Miên chưa bao giờ nghe thấy những tiếng kêu như thế. Những tiếng kêu không phải giống người. Những tiếng kêu không phải phát ra từ mồm miệng người ta, mà từ một chỗ thủng nào đó phụt ra trên cơ thể. Như tiếng kêu đặc quánh của bùn đầm lầy.
Có nhiều người đang quần đảo quanh đây.
Ai ở đây vào lúc này? Một thung lũng hoang vắng, chỉ có những bụi cây lúp xúp và cỏ tranh?
Miên nằm dán xuống mặt đất. Cô căng mắt ra cố nhìn cho rõ đám người đang lố nhố dưới vuông đất trũng mọc đầy cỏ, cách nơi manh áo xanh của Hiền đang bay phần phật trong gió khoảng mươi bước chân.
Miên không thể tin vào mắt mình.
Đó là một đám gồm ba người đàn ông lực lưỡng.
Chúng không mặc quần áo. Mớ quần áo của chúng bị vứt thành một đống bèo nhèo dưới chân.
Hai đứa trong bọn chúng đang lổm ngổm quỳ, mỗi đứa giữ chặt chân và tay một người con gái loã lồ, đang bị dằn ngửa trên đám cỏ, miệng nhét giẻ.
Hai gã đàn ông cố sức căng hai chân của người con gái giang ra, như cách người ta căng một con ếch.
Ở giữa, dưới chân người con gái, giữa hai đùi bị kéo dạng ra như chiếc kéo bị mở căng hết cỡ, là một gã trần truồng đang dập lên dập xuống như điên dại. Cái mông trần truồng và nhọ nhem nhọ thủi của gã nhún nhẩy và rung giật kỳ lạ. Mồm gã không

ngớt nhay cắn cặp vú của người con gái.
Cả ba đứa cất lên những tiếng rú như tiếng tru của chó sói.
Rồi một trong hai gã đang giữ chân tay cô gái lao tới, hất văng gã đang nhấp nhổm trên mình cô:
- Mẹ mày! Lần thứ ba rồi đấy nhá. Bây giờ đến lượt ông…
Miên giật mình vì nghe tiếng nói quen quen. Tiếng nói của một trong những thực khách thường đến quán cơm của bà Cả Bát, nơi cô và bé Hiền vẫn đi làm thuê rửa bát, đi lấy nước gạo, chăn lợn để kiếm sống và thăm nuôi anh Lình trong bệnh viện tâm

thần.
Gã đàn ông đang nhấp nhổm trên mình cô gái bỗng rú lên thật lớn, ngoác miệng ra cắn nát cả bầu vú bên trái mới nhú như chũm cau của cô gái, rồi mới chịu đổ vật ra bên cạnh, thở hồng hộc.
Gã đàn ông râu rậm lại đã nhấp nhổm như điên dại giữa hai đùi cô gái.
Cái gã đàn ông gầy gò hơn, có vẻ thấp cổ bé họng hơn cả, vẫn phải một tay giữ đùi cô gái, một tay đặt vào dương vật của gã, bàn tay cũng cử động lên xuống như điên loạn, miệng há ra thèm khát nhìn gã đàn ông đang cưỡng hiếp cuồng loạn người cô

gái.
Bỗng gã kêu lên:
- Ô, sao tròng mắt nó đảo ngược lên thế này?
Gã buông tay, nhìn tận mặt, rồi hốt hoảng:
- Thôi bỏ mẹ! Nó chết từ lúc nào rồi.
Hai gã đàn ông kia lỏng người, lồm cồm bò dậy.
Trăng soi tỏ mặt cô gái vừa bị hiếp.
Bây giờ Miên mới nhìn rõ mặt cô gái.
Cô rú lên.
Người con gái bị ba gã đàn ông thay nhau hãm hiếp, hai chân bị kéo căng giạng ra như một chiếc kéo, miệng bị nhét giẻ, là bé Hiền và giờ này đã chết cứng đờ.
Tiếng rú hãi hùng và uất hận của cô khiến ba gã đàn ông giật mình nhìn quanh. May mà sức của Miên yếu, lại quá hoảng sợ, nghẹn cả cổ, và cô đang nằm lết trong bụi cây nên ba tên hiếp dâm chỉ cảm thấy nghi hoặc mà chưa kịp trông thấy cô.
Một tên nhìn quanh, mặt căng thẳng, tai vểnh lên:
- Có người đến! Chúng mày à!
Chánh văn phòng tỉnh uỷ – kẻ vừa dập như điên dại giữa hai đùi cô gái, miệng mút máu và liếm lên đôi bầu vú bị cắn nát của bé Hiền, mồm rú lên từng đợt vì khoái cảm như lợn bị chọc tiết, bình tĩnh vừa đứng lên vừa xốc quần:
- Người đâu ra! Chúng mày chỉ thần hồn nát thần tính.
- Nó chết thế quái nào được. Nó đang sướng thì có.
Gã mặc quần, kéo khoá, xơ – vin đàng hoàng, rồi cười hỏi:
- Chúng mày thấy thế nào?
Giám đốc Sở Văn hoá lấm lét nhìn quanh, cũng nhanh chóng kéo phéc-mơ tuya:
- Quá khoái. Chưa bao giờ khoái rợn người thế này. Ông anh thật là số một về thú ăn chơi quái đản trong thiên hạ.
- Chuyện. Tao lãnh đạo chúng mày. Đã lãnh đạo được hồn thì xác cũng phải là số một mới đi cùng được với chúng mày, khiến chúng mày phải quy phục.
Riêng Trưởng phòng Giáo dục huyện thì vừa mặc quần vừa hoang mang ngắm kỹ gương mặt bất động của cô gái. Bỗng gã kêu lên một tiếng thoảng thốt, cúi nhìn tận mặt cô gái, tát vào má, dộng lên chân, thấy vẫn không cử động, lại thấy máu đọng thành

vũng dưới thân mình cô, liền hốt hoảng:
- Thôi! Nó chết thật rồi! Mau biến đi không chết cả nút!
Mấy gã kia giật mình, nhìn kỹ. Gã gầy hơn làu bàu:
- Chỉ tại các ông cứ chẹt cổ nó không cho kêu. Hiếp con gái bé thế này, các ông dữ như hùm, nó không chết mới là chuyện lạ.
- Bây giờ làm thế nào đây?
Một gã nói:
- Muốn sướng hơn người thì phải chịu nguy hiểm thôi. Bây giờ mặc quần áo vào, ra xe, rồi ngay tức khắc ra ga lên tàu đi công tác xuống Hải Dương. Ai hỏi thì nói là đến Hải Dương từ lúc 6 giờ tối. Nghe rõ chưa?
Trăng đã lên.
Miên trông rõ một thân hình loã lỗ của Hiền đang nằm trong bụi cây, chiếc quần bị xé rách tơi tả với những mảnh vải bay lật lưỡng chung quanh.
Đôi vú bị cào nát, những vệt máu chưa kịp khô. Đôi vú chỉ vừa mới nhú, như chũm cau. đầy những vệt ngón tay vặn xoắn tàn bạo.
Rõ nhất là đôi chân, dài, đùi chưa nảy nở, trắng muốt, cứng đờ dạng ra hai bên, máu vẫn ri rỉ chảy ra, đọng thành vũng loang lổ dưới ánh trăng.
Ba gã đàn ông mặc xong quần áo. Một gã đã ngồi vào sau tay lái. Một gã đã leo lên xe. Một gã còn đứng tênh hênh vạch quần vào bụi cây, bỗng thấy tiếng sột soạt. Gã giật mình. Vừa kịp thấy một bóng người bé nhỏ đang lồm cồm bò lết gần đó. Gã hô

hoán:
- Bắt lấy nó! Giết ngay! Lộ chết mẹ cả rồi!
Và chúng rầm rập đuổi theo.
© DCVOnline

Dạ tiệc quỷ – chương 7: Đứa con vàng nghệ

Võ Thị Hảo

… đến nỗi tượng đó nói được và giết chết những ai không chịu thờ lạy mình…
(Kinh thánh – Tân ước)

Đến hạn cúng mở cửa mả cho mẹ trẻ Phượng.

Người ta nói rằng, sau những ngày mới chết, xác chôn xuống đất, hồn phách người chết vẫn quẩn quanh lưu luyến quanh mộ, không siêu thoát được. Hồn mà quẩn quanh bên mả, là hồn bị giam cầm. Nếu không làm lễ cúng mở cửa mả, hồn sẽ khốn khổ,

không về cõi khác. Mà hồn không về cõi khác thì sẽ ở lại ám quẻ người sống ốm đau tai họa.
Ông Dậm và bà Cả vẫn ăn ngon ngủ kỹ, không nhắc nhở gì đến lễ mở cửa mả.
Thằng Hai, thằng Ba nhà ông Dậm, lúc mẹ trẻ còn sống thì mê mẩn vì sắc đẹp, nay mẹ trẻ chết thì vừa tiếc vừa ngẩn ngơ sợ hãi, khoảng canh ba là cứ mơ thấy mẹ trẻ về đánh đu trên cành tre, rồi trên đầu ổ rơm, xiêm áo rực rỡ tung lên trời như đám mây

hồng mây tím, để lộ thân hình nõn nà óng chuốt, đôi chân xinh xinh với những chiếc móng tái nhợt, cổ lằn vệt dây thừng.
Hai anh em không ngủ được, vừa thích mơ thấy mẹ trẻ vừa sợ, đến ngày mở cửa mả không thấy bố mẹ nói gì liền luộc trộm một quả trứng và xới một nắm cơm giấu vào trong vạt áo, mang bát cơm quả trứng ra mộ mẹ trẻ ở góc Cồn Nhà, trong Bụi Thằng

Quỷ.
Đến nơi, hai đứa nhìn quanh quẩn, thì thấy đang giữa ban trưa mà rặng ổi dại rậm rì xanh um như màu mực. Những đám cỏ mần trầu, cỏ tranh, cỏ tía ba lá, cây chua me đất, cây bìm dại leo vấn vít, mộ phẳng lì như chưa từng chôn mẹ trẻ Phượng, như

không hề có một xác chết nào đã được chôn cách đây ba ngày.
Chỉ có đám ổi rậm rì trong Bụi Thằng Quỷ cứ kẽo kẹt hoài như than như khóc.
Thằng Ba hỏi thằng Hai:
- Mày có biết sao bố lại chôn mẹ trẻ ở đây ?
Thằng Hai mắng:
- Phải gọi tao là anh!
Thằng Ba bĩu môi:
- Xì, anh với chả iếc. Bố bảo đừng bắt chước cái lối điệu đàng của bọn tiểu tư sản.
- Thôi được! Chôn mẹ trẻ ở đây là để trị cái tội dám chống lại bố.
- Mẹ trẻ chết, còn chống cái nỗi gì chứ?
- Mày không biết à, bố hận mẹ trẻ tận xương.
- Vì sao? Bố làm mẹ trẻ khổ thế mà.
- Tao không biết. Chỉ nghe bà Cả Cháy nói làng này xưa nay, ai chết oan, chết vì đẻ, vì hủi, thì chôn ở Bụi Thằng Quỷ.
- Chôn ở đây thì khác gì ở bãi tha ma? Đằng nào cũng chỉ là một nấm đất.
- Đây là nơi ở của giống quỷ. Thế mới gọi là Bụi Thằng Quỷ.
- Có thằng quỷ thật à? Thằng quỷ đỏ hay đen, quỷ có phải đi đánh dậm không?
- Làm sao tao biết được. Chỉ nghe nói ngày xưa có một thằng bé chết đói, chết oan, bố mẹ chết đói cả. Nó lết đi xin ăn, cả làng không ai cho một miếng, thế là nó rúc đầu xuống hầm cá trê mà chết.
- Sao chỗ đáng rúc không rúc lại rúc đầu xuống hầm cá trê?
- Thì nó bé biết gì, thấy con cá, nó nghĩ là ăn được, rúc đầu xuống…
- Khiếp, rúc đầu xuống hầm cá trê thì ngạnh nó đâm cho cũng đủ chết điếng, đau lắm…
- Ừ, chết thảm lắm, chết không ai chôn, mối tự đùn lên, phủ kín xác, chỉ còn hai con mắt cứ mở trừng trừng. Rồi hai con mắt mọc lên hai cây ổi đỏ. Mỗi cành nghều ngào uốn dẻo như tay người.
- Cành ổi đỏ trong bụi này ấy à? Chuyện của mày nghe ghê chết! Thế rồi sao?
- Ừ! Thằng quỷ lúc sống bị người làng bỏ, chết đi, lúc nào cũng khóc. Mà không có ai ôm ấp, chết đành mọc cánh tay để ôm người khác…
- Thế thì có gì mà sợ?
- Mày lại gần đây. Bây giờ bỗng dưng có một mớ cành cây tự dưng quấn lấy người mày, thít chặt vào, mày có nổi gai ốc mà bỏ chạy không?
Thằng Hai nói thế, rồi bất thần giơ hai cánh tay nghều ngào quấn chặt lấy thằng em.
Thằng Ba bỗng nổi gai ốc, hét lên, cố gỡ tay thằng anh, đấm đá lung tung.
Thằng anh cười khanh khách như bị ma cù:
- Thấy chưa! Vì ai cũng sợ, nên mới chôn những người chết oan vào đây, cho Thằng Quỷ giữ chặt lấy họ, không cho ra ngoài lang thang oán trách người sống…
Thằng Ba bực tức càu nhàu:
- Chính mày là thằng quỷ thì có…
Thằng Hai đang co chân định đá phốc vào mông thằng Ba, thì rợn người vì tiếng gió, cẳng chân đang tung cao rơi hẫng xuống.
Tiếng gió đổi chiều, như từ giữa bụi cây vuột thổi ra, nghe như rên như khóc.
Những cành ổi dại màu tím đỏ, màu xanh đen, vỏ bong lở lói, đung đưa như những cánh tay đang vươn dài, vung vẩy, quấn chặt. Táo tợn như thằng Ba mà cũng thấy ghê sống lưng.
Tiếng động xạc xào, kẽo kẹt trong bụi cây càng vẳng ra, choán ngợp cả cánh đồng lêu hêu những xác rạ đen xỉn vừa bị trận lụt nước lợ ăn mòn nổi phập phồng trên mặt nước váng phèn chua.
Bụi Thằng Quỷ nổi rõ lên như một quầng tối thẫm màu đỏ và màu xanh đen, rậm rạp như một khuôn mày rậm cau lại giận dữ và oán hận, như một vết nhức nhối trên cánh đồng sầu thảm chỉ thấp thoáng những bóng người săn bắt vài con cua con ốc, nhặt

mót vài bông lúa trời ngoi ngóp. Không thấy bóng người cày cấy. Nông dân còn mê mải đấu tố và chia “quả thực”. Những nhà khá hơn một chút, nghĩa là có vài sào ruộng, thì đang mê mải lấy lòng cán bộ đội để không bị lên thành phần.
Gió từ giữa bụi cây càng xoáy mạnh.
Những cành ổi dại rạp cả xuống mà đung đưa, quạt rạc rài trên mặt đất, xiêu dạt cả đám cỏ dại. Những cành ổi xanh đỏ như những bàn tay quờ quạng tìm kiếm.
Hai anh em lắng nghe, sững sờ nhìn những cành cây, cảm thấy không gian chung quanh như những giọt sương lạnh giá thấm vào tận xương.
Hai đứa xanh mặt nhìn nhau, vừa muốn bỏ chạy, lại cũng không cưỡng lại được ý muốn xem trong bụi cây có gì.
Thằng Hai lẩm bẩm:
- Mả mẹ trẻ đâu nhỉ? Rõ ràng hôm trước mới chôn ở đây, nấm mả còn nổi trên mặt đất, mà giờ không thấy đâu. Hay là ta nhớ nhầm chỗ?
Thằng Ba nói:
- Chắc mả mẹ trẻ trong này. Ta vào đây xem.
Hai đứa lội vào vài bước chân, vạch những cành cây ngó nghiêng.
Bỗng thằng Hai ngã lăn ra đám cỏ, cấm khẩu. Mồm há ra không nói được.
Thằng Ba bạo dạn hơn, cũng sợ đến líu cả lưỡi, tè cả ra quần. Nó cố lôi ông anh ra ngoài, tát vào mặt anh cho tỉnh rồi kéo xồng xộc dậy, chạy bán sống bán chết.
Hai đứa không rõ bằng cách nào, bò hay chạy, mình lấm bê bết, lảo đảo về đến cổng, thấy ông Dậm đang quàng chiếc xà cột vào vai, chuẩn bị đi họp thành phần cốt cán, liền hào hển nói không ra hơi:
- Mẹ trẻ… Mẹ trẻ sống lại không chết. Mẹ trẻ… đang ở trong Bụi Thằng Quỷ.
Ông Dậm cho mỗi đứa một bạt tai, khiến cái xà cột văng ra khỏi vai:
- Lũ mê tín dị đoan. Tuyên truyền giọng điệu phản động. Cấm khẩu chúng mày.
Thằng Hai, thằng Ba hai tay ôm má, miệng vẫn thề thốt:
- Thật mà bố. Chúng con nghe tiếng đưa võng, tiếng than khóc, chúng con mới nhòm vào. Thì thấy mẹ trẻ.
- Láo!
- Thật mà! Mẹ trẻ đẹp lắm. Đang đưa võng. Trên võng có thằng bé có con cu bằng quả ớt. Thằng bé có ba đầu sáu tay, mắt như đèn pha…
- Láo! Nhảm! Chết rấp cái lũ ngu chúng mày!
Ông Dậm lại quát.
Nhưng ông đã run rẩy trong dạ. Mắt ông huơ lên trời:
- Tao đi đốt cái Bụi Thằng Quỷ. Tao băm nát cái gồ mê tín dị đoan…
Ông nhặt xà cột bị văng xuống đất vì đã vung tay bạt tai hai thằng con dám đưa tin dữ. Ông đưa tay phủi bụi, nhổ nước bọt gột sạch chỗ bùn bám trên nắp xà cột, bước ra ngõ.
Đội cốt cán đang chờ ông.
Không có ông Dậm thì họp cũng bằng không.
Đêm nay họp để tố tội, quyết định lên thành phần cho năm nhà trong thôn.
Năm nhà đó cũng chỉ là hạng bán lưng cho trời, bán mặt cho đất, quanh năm quần quật mới có miếng ăn, một năm chỉ được ba tháng không phải ăn rau ăn sắn độn. Nhưng thôn đang thiếu người làm địa chủ. Phải đủ. Nếu không, sẽ bị xếp loại là thôn yếu

kém. Đủ cái gì nhỉ…? Ông Dậm lẩm bẩm, mãi không nhớ được cái mà cán bộ đội cải cách vẫn nhấn mạnh.
… À, đủ năm phần trăm. Nhất định phải tìm ra cho đủ năm phần trăm địa chủ để diệt tận gốc. Không đủ không xong, là chưa hoàn thành nhiệm vụ, là mất lập trường vô sản. Là đồng lõa và bao che cho bọn bóc lột, là liếm gót giầy Việt gian và làm ảnh

hưởng hòa bình thế giới. Mà những loại bao che bóc lột, liếm gót Việt gian thì sớm muộn cũng bị đưa ra kiểm thảo hoặc đấu tố…
Cuộc lên thành phần đêm nay, dù định bắt đầu từ lúc đỏ đèn, nhưng ông Dậm đến muộn, cũng không ai dám giục họp trước, kể cả cán bộ đội. Cả đám mười hai người ngồi đập muỗi đen đét hoặc gãi lưng, nghe tiếng trâu đói thiếu rơm ăn, húc sừng vào

dóng chuồng kêu cồm cộp, sốt ruột mà không dám kêu ca, dù đến nửa đêm vẫn phải chờ ông Dậm.
Nếu không có ông, thiếu những lời đấu tố bịa tạc vu cáo như thật của ông, với một niềm tin đinh ninh rằng ta muốn ai chết, kẻ đó phải chết, thì sẽ không ai đủ máu mặt để quy tội địa chủ cho mấy nhà nghèo lành như đất kia.
Khuya, những người kiên nhẫn nhất cũng đã bắt đầu sốt ruột. Cán bộ đội cải cách đã cau mặt lại, nghĩ rằng cái lão Dậm này càng ngày càng quá mù ra mưa. Bần cố nông đóng khố cởi trần mà lên làm chủ nhân ông được mấy bữa, giết được một số

người là đã lên mặt không coi ai ra gì. Cứ đà này, có ngày lão đứng lên đấu tố cả mình là địa chủ cũng nên. Có gì ta phải phòng thân trước. Bây giờ, đâu đâu cũng thấy đấu tố, người ta tranh thủ trả thù nhau. Không biết thế nào mà lần.
Người cốt cán chuyên trông coi cọc trói, súng kíp và dây thừng xoay người nhìn sang chái nhà tối om.
Không nhìn thấygì trong bóng tối đen đặc. Ngọn đèn dầu lạc đã đốt lên trong cuộc họp chỉ đủ soi chập chờn những mặt người dữ dằn, hốc hác, tội nghiệp, đang hằn lên vệt đỏ bầm hằn học ganh tị, một quyết tâm hừng hực và cả một nỗi hoang mang.
Người cốt cán chuyên trông coi cọc trói và dây thừng không nhìn thấy gì trong bóng đêm nhập nhoà.
Nhưng anh ta đã duyệt lại đủ cả, thấy rõ mồn một trong đầu.
Ba chiếc vồ đập đất nay còn hai, một đã gẫy cán vì cuộc trừng trị tên địa chủ mới lên thành phần cách đây ba ngày. “Lão Uông thật cứng đầu. Đập đến gãy cả cán vồ vẫn còn thoi thóp! Bây giờ thì còn hai vồ, một súng kíp tậm tịt. Súng tậm tịt bắn mấy khi

chết ai, chủ yếu để ra oai. Bắn vài phát để chứng tỏ ta đây là quân chính quy, có súng có ống, vũ trang có đẳng cấp quốc gia, bọn phiến loạn và bọn bóc lột, bọn phản động chớ coi thường.
Làm nhiệm vụ xử tử các tội nhân đã có những thứ không tốn kém gì, như vồ đập đất, cuốc và dây thừng hoặc bất cứ cái gì vớ được. Thừng còn tốt. Cọc thì cắm đâu vẫn đấy, không phải trông coi gì. Có các vàng cũng chẳng đứa nào dám sờ vào cái cọc

ấy.
Đêm đêm, người trông coi súng và cọc bắn nhìn thấy những cái đầu ngoẹo gục xuống mỏm cọc, nhìn vào tận mặt anh ta mà cười, nhe răng đầy máu đỏ rồi đưa tay vuốt hờ lên mặt.
Có tiếng chân nặng trịch, dội thậm thịch đầu ngõ. Mọi người ngồi thẳng dậy. Không nhìn thấy gì trong bóng tối, mọi người đều biết ai đang đến.
Ông Dậm bước vào. Vai lủng lẳng xà cột. Từng bước chân như những chiếc vồ dận xuống đất. Đôi lông mày chổi xể cau gắt lại. Ẩn dưới đôi lông mày là đôi mắt lộ thần, nhìn bình thường mà như trợn trừng, phát tán một thứ ánh sáng như ánh sáng của

mắt con rắn lục.
Mười hai người chờ họp thở phào nhẹ nhõm.
Chủ toạ bỗng trở nên tự tin, đứng lên xoa xoa hai tay, bắt đầu cuộc họp, mắt không rời đôi mày chổi xể của ông Dậm, tinh hoa của cuộc họp hôm nay.
Người trông coi cọc bắn thở dài.
Tối mai, cùng lắm là sáng ngày kia, sẽ phải đụng đến những thứ đang nằm im trong chái nhà.
Sẽ phải đụng đến ít nhất là ba cái đầu.
Rồi xem, sau cuộc họp đêm nay, ngày mai đấu tố, năm nhà kia sẽ phải nhận tội đã ăn xương hút tuỷ của bần cố nông, tội làm tay sai cho giặc, tội đã giàu có, tội độc ác đến mức đổ cả tấn gạo xuống sông trong khi nông dân chết đói.
Cuộc đấu tố sẽ tuyệt hảo, nếu khéo bố trí được vài bà đứng lên tố rằng thằng địa chủ này nọ đã hiếp bà trong đống rơm hoặc đã hủ hoá với chính mẹ mình.
Hôm nọ, chính lão Uông đã bị bà Mạ đứng lên xỉa xói, đập váy vào mặt vì cái tội đã hiếp mẹ bà ta vào tháng bảy năm ngoái.
Khi lão Uông khóc, nói rằng mẹ bà Mạ đã chết từ tháng tư năm kia, làm sao tháng bảy năm ngoái lão có thể gặp người chết mà hiếp được. Đám dân làng đang ngùn ngụt căm thù, nghe thế, cũng không nén được, liền cười ầm lên. Bà Mạ bẽ mặt, nhảy lên

vả vào miệng lão, chửi xối xả, cho cả tông chi họ hàng nhà lão ăn đủ thứ bẩn thỉu.
Lúc đó, cán bộ đội thấy tình thế nguy hiểm, không chữa không xong, không đối phó kịp thì công vận động đấu tố bao nhiêu ngày này biến thành công toi, buổi đấu tố đã khởi động được đến thế, mà bây giờ có cơ biến thành trận cười, liền vội bước tới,

dõng dạc:
- Chiến sĩ cốt cán Nguyễn Thị Mạ, nói thế đủ rồi. Ở đây không ai không biết tội ác của tên Việt gian địa chủ bóc lột này. Phải không, thưa đồng bào?
Đồng bào ở dưới bớt cười, nhưng không khí xìu hẳn.
Cán bộ đội lại lớn tiếng:
- Cái chuyện lão Uông hiếp mẹ cốt cán Mạ thì dù thời gian có chênh lệch, nhưng bản chất vấn đề vẫn là một. Dù mẹ bà Mạ có chết từ năm kia, nhưng cái chuyện mà hủ hoá thì nó kéo dài, không chỉ một lần là xong, nên chuyện bà Mạ nói vẫn là sự thật thôi.
Lão Uông uất nghẹn, đầu tiên còn tức giận, sau không nói nữa, mở to mắt chằm chằm nhìn người đàn bà trước mặt, nhìn lão Dậm, rồi nhìn cả đám cán bộ đội cải cách đang lãnh đạo đám đông đấu tố rầm rập chửi rủa gào thét dưới kia, thảng thốt.
Khi cán bộ đội cho lão nói lời cuối cùng, lão Uông chỉ nói:
- Ta đã mất một tay, họ hàng và đồng chí của ta nhiều người đã chết để giành đất nước, trao vào tay một lũ bỉ ổi thế này ư?
Thôi, ta chết đi là phải. Hồ Chí Minh ơi! Ông ở đâu?
Rồi lão Uông đập đầu vào cọc bắn. Nhưng sức yếu quá, đập đầu mà không chết, chỉ thấy máu chảy đầy mặt, máu che phủ không còn nhận ra đâu là hai con mắt.
Ông Dậm và cán bộ đội cải cách lập tức giơ vụt nắm tay lên, hô to:
- Đả đảo thằng địa chủ Việt gian phản động bán nước hủ hoá hiếp cả mẹ nông dân lại còn dám khinh rẻ đoàn thể và anh em bần cố nông!
- Đả đảo! Đả đảo
Đám đông như bị thôi miên. Nhiều người ngơ ngác hô vuốt đuôi vì có nhiều tiếng quá, không biết chọn tiếng nào để hô theo cho phải, đành cuống cuồng hô to:
- Hủ hoá! Hủ hoá!
- Khinh rẻ! Khinh rẻ!
Cán bộ đội nghe, nhăn mặt như ăn phải dấm. Nghĩ bụng: Nói nhiều lời với cái bọn này thì coi chừng hố to. Ai lại hô to “Hủ hoá, hủ hoá” bao giờ!
Rút kinh nghiệm, anh ta bèn hô một câu thật ngắn gọn:
- Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ!
Đám đông ở dưới giơ nắm tay lên phản đối rần rần. Người sẵn cuốc giơ cao cuốc. Sẵn liềm giơ cao liềm. Những chiếc cào răng gẫy lỗ chỗ cũng giơ cao.
- Bắn! Bắn chết cái thằng chó Việt gian phản động mà còn già mồm …
Cán bộ đội và ông Dậm cùng thét lên điên cuồng.
Súng kíp nhả đạn. Loạt đạn đầu tiên đi chệch ra ruộng mạ.
Người bắn điên cuồng bóp cò. Người lão Uông giật lên, như đã trúng đạn, nhưng không phải.
- Hồ Chí Minh! Ông ở đâu?
Nghe nói, lão Uông là bạn hoạt động với bác Hồ. Lão là người lập những chi bộ cách mạng đầu tiên thời hoạt động bí mật những năm 29, 30. Nhà lão Uông không đơn thuần như nhà người ta. Trong vườn, dưới bụi tre, là căn hầm bí mật ba tầng mà cả

nhà lão đã đào trong bao nhiêu đêm thì không biết, chỉ biết cả bố mẹ vợ con thay nhau đào như chuột chũi, bọc đất vào thắt lưng, gần sáng lẻn ra bờ ao đổ. Đào mãi thành ba tầng hầm, để nuôi giấu cả một tiểu đội cán bộ, sau này là lãnh đạo du kích khắp

cả miền. Cơm có ba bát thì mỗi người trong nhà lão Uông nhịn đi một bát để nuôi giấu cách mạng.
“Lão Uông làm thế là ngu hay khôn nhỉ?”
Người trông coi vồ và cọc trói tự hỏi. Suy nghĩ của anh ta bị cắt ngang.
- Vồ đâu! Lập tức sử dụng vũ khí của cách mạng để xử tử tên địa chủ phản động, tên tay sai Quốc Dân Đảng…
Vồ đã ra tay. Vồ đã giơ lên cao. Vồ lại hạ xuống. Đôi mắt lão Uông hiện lên mờ mờ qua làn máu. Không oán hận, không giận dữ, mà thảng thốt ngạc nhiên.
- Nhà Cu Lương đấy ư? Sao con lại giết ta?
Vâng, tao là Cu Lương đây!
Tao không là Cu Lương thì là ai!
Cu Lương này hồi trước đã từng làm liên lạc cho lão Uông một thời gian.
Có lần Cu Lương bị rắn độc cắn, lão Uông, lúc đó đang ở dưới hầm soạn công văn, thấy Cu Lương ôm chân hét lên, thì bỏ bút, nghiêng mắt xem xét vết cắn, rồi bảo Cu Lương cố chịu đau, lão Uông lấy con dao nhíp rạch vết thương, nặn máu ra. Máu vẫn

không chảy được. Lão Uông đành cúi xuống, ghé miệng vào, hút nọc rắn ra khỏi vết cắn rồi giở quyển sách chi chít chữ Nho ra đọc, rồi lấy thuốc gì không biết, rịt vào. Cu Lương sốt mấy hôm thì khỏi. Hú vía! Cùng là bị rắn cạp nong cắn, nhà Hoe Chít ở

xóm dưới đã chết lăn chết lộn sau ba ngày khi bị rắn cắn cách đây vài năm…
Người trông coi cọc bắn biết rõ những nhà này. Ba người trong năm người là hàng xóm của anh ta. Con anh ta hay vác rá sang vay gạo nhà họ. Cũng có lần họ đã vay gạo của anh ta.
Năm người “được xét lên thành phần” bóc lột hôm nay, chỉ là những người chăm chỉ lam làm, không bị đứt bữa ngày giáp hạt nhưng mở nồi cơm nhà họ cũng chỉ thấy “cơm đỏ cơm xanh” vì độn khoai và rau.
“Ta chỉ làm cố lần này nữa thôi. Vợ đang có chửa. Bao nhiêu người rủa sinh quái thai…”.
Người giữ cọc bắn ngáp ruồi, vờ ngủ gật, nghe câu được câu chăng những lời quy tội lúc sang sảng, lúc ngập nghẹn như hóc xương xung quanh mình…
Hôm sau.
Ông Dậm hối thúc đàn con cùng bà Cả mang liềm hái, dao rựa, cuốc thuổng lao vào gốc ổi lớn nhất trong Bụi Thằng Quỷ.
Ông chọc tiết một con lợn con, đựng vào bát sành, đem giấu vào mớ rơm, nhân lúc không ai để ý, đem bát tiết lợn ra vẩy bốn phương tám hướng rồi lẩm nhẩm khấn.
Chôn cái bát sành xuống đất, nơi mà ông đồ rằng chính đó là cái huyệt chôn mẹ trẻ Phượng. Bây giờ thì chỗ đó phẳng lỳ. Nhưng ông nhớ rõ, mình không thể nhầm được, vì vết cây ổi non ông đạp gẫy trong khi cưỡng hiếp cái thi thể của Phượng vẫn còn

ứa nhựa nguyên đó. Mảnh chiếu rách chôn chưa hết cũng nhô một góc lên cạnh gốc ổi.
Làm sao nhầm được!
Hôm đó ta còn lấp đất cẩn thận, nện chân lên khắp cái mả của nó, nhất là vùng đầu và mặt, để cho ngậm chặt cái mồm nguyền rủa nhà ta vô phúc. Làm sao nhầm được! Bóng cái mả còn lùm lùm nhô lên trong bóng tối, trông rõ mồn một sau những bụi cây,

khi ta ngoái đầu nhìn lại một lần để chắc chắn rằng không có ai nhìn thấy ta đã hành sự những gì dưới đáy huyệt.
Thế mà bây giờ cả cái mả phẳng lì như chưa từng có Phượng nằm dưới đó.
Ông Dậm lẩm bẩm.
Chả lẽ ông lại đào cái mả này lên để xem thực hư?
- Tao đào cái mả này lên xem con này giỏi làm giống ma giống quỷ nào!
Ông nói thế, rồi nhăm nhăm cầm cuốc, chọn chỗ góc chiếu nhô lên, bắt đầu hùng hục cuốc.
Bà Cả sợ hãi:
- Ông làm cái gì thế? Bây giờ nó chết làm ma nhà ông. Ông đào mả nó lên là động đến cả ông bà tổ tiên nhà ông đấy. Động đến cả mẹ con tôi! Ông không muốn sống thì để mẹ con tôi sống.
Ông Dậm hơi chùng tay, nhưng vẫn nói cố:
- Tao đào để cho thằng Hai, thằng Ba đừng có ngoạc mồm ra mà nói là con mẹ trẻ không chết, đang ru con trong Bụi Thằng Quỷ, không thấy mả nó đâu.
- Chấp gì trẻ con. Tốt nhất là ông đốt quách cái bụi này đi. Hết Bụi Thằng Quỷ, hết tà ma ám quẻ…
Ông Dậm dừng cuốc, nhìn quanh, thấy đâu cũng âm u rờn rợn, chợt nghe lạnh toát hai tai, liền nói:
- Thôi được! Mày đi chuẩn bị mồi lửa vào bùi nhùi rơm. Mấy thằng mấy con kia, cầm thuổng cầm liềm vào chặt hết đám ổi này cho tao.
Ông tự tay cầm thuổng lao vào gốc ổi lớn nhất trong Bụi Thằng Quỷ.
Chợt một trận gió nổi lên từ phương Bắc, trong một tiếng thở dài não nuột đánh sượt xuyên qua bụi cây, trượt hẫng trên gáy những người đang đứng cầm bùi nhùi và cuốc thuổng gậy gộc, đánh thõng một vệt trên cánh đồng Cồn Nhà.
Bà Cả đang cầm liềm bứt những cành cây rậm rạp ven Bụi Thằng Quỷ. Bà lựa những cành và lá khô chất lại, bắt đầu thổi bùi nhùi để đốt. Đang đốt, bà bỗng rùng mình dừng tay:
- Kìa, nghe như có tiếng ai thở dài đánh sượt…
Đàn con cũng bảo nhau, mặt tái nhợt:
- Có tiếng thở dài. Mẹ còn nghe cả tiếng đưa võng chứ?
Bà Dậm hoang mang:
- Không! Tao không nghe tiếng đưa võng. Nhưng tiếng thở dài thì rõ mồn một. Như có ai tóm lấy gáy tao mà vuột một cái xuống tận thắt lưng. Tay lạnh buốt như lườn cá chạch ấy.
- Làm đi! Mẹ chúng mày thần hồn nát thần tính. Mau tay lên không ông đánh cho tuốt xác! Trưa nay đừng hòng có cái bỏ mồm!
- Bố! Có thịt con lợn con bố vừa mới giết mà.
Con Bảy ngây thơ ngước nhìn ông Dậm, chóp chép miệng.
Bà cả lườm:
- Mày giỏi tưởng bở nhỉ! Con lợn ấy chỉ đủ cho bố mày với vài ông hàng xóm nhắm rượu. Trưa nay, mày có khoai khô rồi con ạ.
Con Bảy khóc giẫy đành đạch. Ông Dậm không nói không rằng tiến lại cho nó một bạt tai lăn ra đất. Con Bảy thất kinh táng đởm, ngậm miệng khóc lặng.
Bỗng gió lại nổi. Lại có tiếng thở dài. Lần này tiếng thở dài lớn đến nỗi ông Dậm to gan lớn mật là thế mà cũng dựng gai lưng, mồ hôi vã ra như tắm.
Hình như ông còn nghe cả tiếng đàn bà hát ru con.
Ông Dậm xớn xác rải mớ rạ xung quanh Bụi Thằng Quỷ rồi vẩy dầu hoả, hối hả phồng má thổi cái bùi nhùi rơm cho lên lửa.
Những tia lửa quằn quại bốc lên theo khói. Ông Dậm vứt cái bùi nhùi rơm vào đám rạ ướt đẫm dầu.
Lửa bốc rần rật, vây lấy Bụi Thằng Quỷ.
Bỗng ông Dậm nghe có tiếng cười khanh khách ngay đằng sau lưng.
Ông giật mình ngoảnh lại.
Sau lưng ông không có ai, chỉ lửa và khói.
Tiếng cười khanh khách lại nổi lên ngay phía trước.
Ông lại ngoái đầu nhìn.
Cũng chẳng có ai, chỉ tiếng cười xoáy vào óc.
- Dị đoan. Ma quỷ à? Đứa nào giỏi hù doạ, ra đây tao băm chết.
Bà Cả và lũ con đã chạy bán sống bán chết ngay từ khi nghe thấy tiếng cười. Chỉ còn mình ông Dậm đứng chơ vơ bên Bụi Thằng Quỷ, bên đám lửa khói đã xơ xác tàn.
Cây ổi lớn vẫn đứng trơ trơ.
Tiếng cười lần này sằng sặc, khanh khách như mọc lên từ dưới chân ông.
Ông Dậm bỏ cả liềm hái cuốc thuổng, chạy thốc về nhà.
Trưa ấy lũ con ông Dậm ăn gần trọn nồi thịt lợn con.
Ông Dậm hôm nay chê rượu, nằm lơ mơ nửa ngủ nửa thức, không thèm đụng đữa.
Ngày hôm sau ông mới dậy, đủng đỉnh đi dạo quanh chuồng lợn.
Ngày hôm sau nữa, ông đã đỏ đắn trở lại. Ông lại trở về chỗ ngồi trên chiếc sập gụ khảm trai và chiếc điếu bát cẩn vàng.
Nhưng đêm đêm, cứ sau giờ Tuất, trong xóm lại văng vẳng tiếng than khóc. Quanh nhà ông Dậm thì rõ nhất là tiếng đàn, tiếng ru con và tiếng thở dài.
Tiếng thở dài như rút gan ruột người ta treo lên cây rồi để mặc, thả lõng thõng xuống.
Người trong thôn cả quyết rằng, đêm đêm, mẹ trẻ Phượng mặc yếm đào, áo mớ bảy mớ ba, dạo lướt trên các ngọn tre, vòng tay như ôm con mà trong tay rỗng không, hai trái tai chảy máu ròng ròng.
Mẹ trẻ Phượng đứng lắt lẻo đầu hồi nhà ông Dậm mà nhìn chằm chằm vào cái sập gụ khảm trai.
Láng giềng thì mất ăn mất ngủ nhưng vợ chồng ông Dậm thì trái lại. Họ ăn ngon ngủ yên. Da dẻ cứ đỏ hồng, láng mướt.
Cứ buổi trưa và đêm đêm, phát ra từ trong nhà tiếng rên rỉ khoái lạc của ông Dậm và bà Cả, như tiếng gào của lũ mèo đực và mèo cái động đực trên mái nhà.
Cuối năm ấy, bà Cả như cành cây đã khô nhựa từ ba năm nay, bỗng đẻ ra một đứa con trai. Thằng Tám.
Thằng Tám có một đầu, bốn tai và ba chân.
Cái chân thứ ba thực ra là do đốt xương cụt dài ra, thòng xuống mà thành chân.
Da mặt nó màu vàng nghệ. Đôi mắt to không một sợi lông mi.
Thằng Tám bị bỏ đói ba hôm.
Nó nằm cả ngày trên cái chõng đặt ở góc nhà, không khóc một tiếng. Bà Cả cực chẳng đã, đành ôm lấy nó cho bú sau khi qua cơn sợ hãi.
Từ đó, nó ở với mẹ trong góc buồng, dưới chái nhà để củi và cối giã gạo.
Mẹ con bà không được bén mảng lên nhà trên.
Hôm nào trở trời, khó ngủ, ông Dậm nửa đêm tỉnh giấc, cứ thấy thằng con ba chân màu vàng nghệ, bốn lỗ tai rách đang treo mình trên xà nhà như thạch sùng, nhìn mặt ông chằm chằm.
Ông thất kinh vùng dậy, mồ hôi đầm đìa.
Ông rón rén cầm gậy đi xuống chỗ chái nhà thì thấy nó đang ngủ ngon lành cạnh bà Cả.
Ông Dậm nghiến răng kèn kẹt, tóm gáy thằng con ba chân màu vàng nghệ xách ngược lên, mang quẳng ra ngoài sân.
Đứa con vàng nghệ lặng lẽ nhìn ông, không oán thán. Ánh mắt như cười cợt.
© DCVOnline

Dạ tiệc quỷ – chương 8: Gầm bàn thờ

Võ Thị Hảo

Chiếc ô tô Mercedes màu đen, biển số xanh trờ tới, ghé êm ru trước thềm nhà.
Bà Cả đưa hai tay che mắt kèm nhèm nhìn ra.
Bỗng bà giật thót người, quay vào quơ vội mấy cái áo quần vứt lơ vơ trên phản, giấu dưới mặt chiếu, trở mặt vào trong quát:
- Thằng Tám! Xuống ngay chỗ cối giã, ngồi vào xó của mày. Ngồi đâu chết dí đấy! Cấm chỉ mày bộn mảng ra nhà ngoài. Bố mày mang khách về đấy!
Đó là một thằng bé màu vàng nghệ, cao bằng cái kiềng tre trong xó bếp, mắt không lông mi, tròn xoe không chớp, khó đoán biết được nó có nhìn thấy gì hay không. Bốn cái tai mỏng dính, loe ra như bốn cái mộc nhĩ đeo rất sinh động gần má, biết vẫy như

tai chó. Cái chân thứ ba thòng xuống chạm đất, nhỏ bằng ngón tay cái, tựa cái đuôi trọc lông nhưng lại kết thúc bằng một chiếc móng guốc. Hễ nó di chuyển một bước thì cái đuôi lại chống xuống đất một nhát nghe cộc một tiếng như móng ngựa.
Nghe tiếng nói của bà Cả, thằng Tám liền cười hềnh hệch. Nó leo tót lên xà nhà. Cái đuôi có móng guốc quấn vào những thanh xà bằng gỗ xoan rồi chốt lại chắc chắn như cái đinh vít. Nó ngồi trên xà nhà, đung đưa hai tay và hai chân còn lại, nhìn bà Cả

một cách thách thức.
Tốp người mặc complet đen đắt tiền bước qua hàng rào râm bụt phía ngoài cổng. Đi sau là một người mặc bộ quần áo nâu, chân dép lốp.
Bà Cả hoảng hốt chạy đi lấy cái câu liêm dựng trong góc nhà, chọc lên chỗ thằng Tám đang leo. Chọc chỗ này nó nhẩy vút ra chỗ khác. Bà Cả nhướn đôi mắt kèm nhèm lông quặm lên theo dõi thằng con ba chân cứ leo trèo vun vút, đu từ đòn tay này sang

đòn tay khác, mồm nhọn hoắt hết nhệch sang bên phải lại sang bên trái theo nhịp tay. Bà mỏi rã rời vẫn không thể chọc trúng thằng con ngỗ ngược.
Tiếng chân đã gần đến thềm. Bà Cả càng hoảng hốt, vứt cây sào nhìn lên, chắp hai tay khóc mếu ngước nhìn thằng Tám:
- Tao lạy mày! Mày xuống cho tao nhờ! Cái thằng oan gia oan nghiệt kia! Bố mày nhiều lần suýt giết mày rồi đấy! Mày còn chưa tởn à, của nợ kia. Tao lạy lục mãi, bố mày mới để mày đến bây giờ đấy con ạ. Xuống ngay! Mẹ giấu mày vào ổ, rồi chốc bố

mày đi, mẹ cho ăn bỏng nếp.
Thằng bé liền cười lên sằng sặc, nhảy vút từ trên xà nhà xuống tay bà Cả. Bà lật đật bế thốc thằng Tám chạy xuống chái nhà, giấu nó vào sau cối xay và cối giã gạo, trong cái ổ lót chăn bông của nó, dài vừa bằng một cái dậm xúc tép và có cạp tròn như

một cái thuyền thúng.
Bà rủa:
- Ngồi đây! Thằng chó con! Mày mà ra ngoài đó, bố mày biết lại đánh tuốt xác cả mẹ lẫn con!
Bà cẩn thận tròng cái dây xích vào cổ chân thằng bé, đặt vào dậm cho nó mấy quả khế rồi đi lên nhà.
Bà chỉ kịp vấn lại tóc, thay chiếc áo lụa đã rung rúc bằng chiếc áo gấm hoa đỏ treo trong buồng, chỉ mặc mỗi khi có khách ở tỉnh ở huyện về thăm. Bà có tới năm chiếc áo gấm mới may, từ hồi ông Dậm lên làm cán bộ lãnh đạo trên tỉnh. Nhưng bà tiếc của,

nhớ lại những ngày khố rách áo ôm buộc vạt váy thành một nùi trước bụng, theo chồng đi đánh dậm, nên nhiều lần cứ mặc vào, lại tấm tắc ngắm nhìn, lại cởi ra, treo lên mắc. Bà nói với thằng Tư:
- Thế này là đẹp lắm rồi. Còn đẹp hơn cả áo con mụ Cử thời Cải cách…
Ông Dậm bước vào nhà.
Quần áo bà ba nâu, guốc mộc, phong thái ung dung đủng đỉnh, trông ông Dậm bây giờ thật là hiền lành đức độ, khác hẳn với ngày xưa, hễ mở mồm ra là chửi bới hàng xóm, nhiều lần trói vợ ngoài gốc cau và hơi chút là đá đít tạt tai con cái, thậm chí còn

dùng gạch đập đầu chúng chảy máu luễ loã.
Ông Dậm bây giờ là một người không tuổi. Tất cả những gian giảo thâm hiểm của ông nếu trước đây lồ lộ trên mặt, thì nay, sau rất nhiều dụng công tập tành lại chịu khó học bình dân học vụ, đã lùi vào ẩn sâu dưới đáy mắt.
Chỉ thỉnh thoảng, từ đáy mắt, một tia độc ác lại trồi lên, thè ra khỏi mắt như nọc độc trên lưỡi rắn, loé chớp vào người đối diện, rồi lại ẩn đi ngay. Khi kẻ đối diện giật mình trước chớp loé đó mà nhìn lại, thì đã thấy một ánh mắt hiền từ, một nụ cười bao

dung và một phong thái khoan thai.
Bà Dậm lật đật ra đón khách.
Ông Dậm âu yếm nhìn bà Dậm, cười hiền từ:
- Nhà đấy à? Tôi bận việc nước. Lâu không gặp, nhà vẫn khoẻ đấy chứ?
Bà Dậm lúng túng không biết đáp lời ra sao, co rúm lại như con nhái bén trước con rắn, luống cuống đưa hai tay dâng khay nước:
- Lạy các ông, mời các ông xơi nước ạ!
Ông Dậm cau mặt, nhưng vẫn cười khà khà:
- Đấy, nhà tôi được cái cứ giữ nếp chân quê, bao nhiêu năm rồi vẫn cứ thói quen khiêm tốn như thế với các đồng chí của chồng. Này nhà ơi! Tôi đã dặn nhà bao lần rồi! Đó là các đồng chí cấp dưới thân thiết của tôi. Khăng khít môi hở răng lạnh. Cứ bình

đẳng mà xưng hô thôi, bà cứ làm như thời phong kiến.
Đám tùy tùng của ông Dậm cười nói rộn ràng. Anh chàng trợ lý kín đáo khuân một bọc quà lớn đặt vào tay bà Cả, thầm nhủ rằng bọc này thì lớn, nhưng bất quá cũng chỉ vài cân kẹo bánh hoa quả và ít tiền. Cái bọc quà mà ông Dậm vẫn nhận hàng tháng,

nhất là vào dịp cuối năm thì nhỏ, nhưng lại có thể mua được cả triệu bọc quà này và ông Dậm giấu chúng nhanh như chớp vào những chỗ chỉ có trời biết.
Vẫn ngôi nhà của ông bà Cử xưa. Dù qua bao thăng trầm, vẫn phảng phất không khí thâm u huyền hoặc.
Nhìn bề ngoài, ông Dậm trông khoan thai và oai phong, nhưng hễ vừa bước chân lên nhà, là ông mất ngay vẻ tự tin đắc chí. Trông ông lại như người đến làm công hoặc kẻ hầu người hạ chủ nhà, dù ngôi nhà hiện đã bị thay đổi rất nhiều về cách bày biện

đồ đạc.
Những hòn non bộ sơn thuỷ hữu tình giờ khô cạn nước nằm chỏng chơ. Những luống hoa hồng, những khóm hải đường và mộc lan thơm ngát ngày nào, nay đã bị đốn đi và trồng thế vào những luống cà và rau dền. Cỏ gà, cỏ gấu và rau cỏ mực mọc tràn

lan. Đám chậu cảnh men lam, được ghi rõ niên hiệu đời Tống thì được hàn xi măng ở lỗ thoát nước dưới đáy chậu làm chỗ trữ nước tiểu hoặc ủ phân.
Cả đám tuỳ tùng của ông Dậm ngồi uống trà một lúc, rồi biết ý vờ ra ngoài cổng ngắm đồng ruộng, ngắm khu phố, kéo nhau sang nhà hàng của đám con ông Dậm để đặt tiệc trước, đương nhiên là do công quỹ chi trả. Họ cố vắt óc nghĩ ra những món thật

đắt tiền. Được đi cùng thủ trưởng là một dịp may để tỏ lòng trung thành, phải đến nhà hàng của con thủ trưởng để đặt những bữa tiệc lớn. Sơ suất mà quên không đặt tiệc là sớm muộn cũng có chuyện.
Họ cũng biết, dù là bố con thật đấy nhưng trong số tiền lãi do kinh doanh nhà hàng mà con ông Dậm thu được, đứa con gái ông phải ghi lại thật rành mạch và chi cho bố một phần lớn. Hàng tháng, cô con gái vẫn phải đi lên tỉnh để chuyển số tiền này cho

bố, không được phép chậm trễ.
Đám khách đi rồi, ông Dậm bước vào gian nhà thờ.
Nền gạch hoa quý phái trước đây đã bị bóc đi một khoảng bằng chiếc chiếu, thay bằng đất nện. Bàn thờ nhà ông Cử đã bị phá tan, Bài vị đốt làm củi. Gỗ sơn son đem làm chuồng lợn, hoặc thả trôi sông sau khi mẹ trẻ Phượng thắt cổ chết. Thay vào đó là

bàn thờ nhà ông Dậm.
Không bài vị. Chỉ có một lư hương. Trên bàn thờ độc một câu khẩu hiệu đỏ rực, căng ngang phủ một lớp bụi dày:
- Kiên quyết giữ vững lập trường cách mạng. Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ.
Bàn thờ này ông Dậm đã nhiều lần phô ra cho nhiều đám khách ở huyện, tỉnh xem để tính điểm lập trường. Câu khẩu hiệu này đã từng làm rạng danh ông, giúp ông thăng tiến trên bước đường hoạn lộ.
Bây giờ thì thời thế đã đổi khác.
Sau ba lần làm lại lý lịch và giấy khai sinh, ông Dậm từ chỗ trình độ văn hoá chỉ lớp bảy bình dân học vụ, đã có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học loại trung bình, rồi có bằng đại học Luật hệ chính quy loại khá, mua với giá chỉ ngang một con trâu.
Tuổi cũng vậy, sau ba lần khai lại tuổi, ông Dậm trẻ đi chừng mười lăm tuổi. May mắn là trước đây bố mẹ ông đi đánh dậm, đẻ ông ngoài hốc cây, túp lều bên sông, không ai để ý, không có giấy khai sinh gốc, mà người làng cũng không ai để ý biết ông

bao nhiêu tuổi, nên những lần làm lại giấy khai sinh lộ liễu, không bị ai phát hiện. Cái anh văn thư tình cờ phát hiện ông Dậm khai man tuổi đã trót lỡ lời thì đã bị ông đầy đi B và đã mất tích từ bao nhiêu năm nay.
Ông Dậm bỏ guốc ra, bước vào mảnh đất nện bằng chiếc chiếu giữa nền gạch hoa.
Mười ngón chân của ông như mười con đỉa trâu to bự bám vào nền đất nện.
Đôi ngón chân cái ông choãi ra, bám chặt lấy nền đất.
Ông cảm thấy một luồng mát rượi chạy suốt từ gan bàn chân, mát lên tận óc.
Tôn giáo của ông là đất.
Cứ mỗi khi mệt mỏi, cảm thấy có nhiều điều lo lắng, ông Dậm lại trở về cái bàn thờ này, mảnh đất nện bằng chiếc chiếu này và ông nhớ lại những ngày ông đi chân đất lội ruộng.
Ông nhớ lại những cực nhục ngày xưa, bụng đói mắt mờ, trời rét căm căm dầm mình đánh dậm, bị người đời khinh miệt vì bán tép đong gian cho người ta.
Mảnh đất này nhắc ông nhớ lại những ngày đó. Và ông lập tức lấy lại được nghị lực, chí kiên cường. Đi ra ngoài, dù có thế nào, vẫn không cực nhục bằng cái thời ông còn đánh dậm ở mảnh đất này.
Ông Dậm nằm úp sấp xuống, đưa lưỡi liếm vào đất, miệng lẩm nhẩm vài lời khấn.
Bỗng ông Dậm nghe một tràng cười khành khạch từ trên cao.
Ông giật mình nhìn lên, đã thấy thằng Tám đang đu ngất ngưởng trên xà nhà. Ba cái chân cùng vẫy chào ông, nước da màu vàng nghệ càng vàng ệch dưới ánh tranh tối tranh sáng của gian nhà thờ.
- Cha cha!
Thằng Tám gọi, đôi mắt không con ngươi, to tròn không lông mi nhìn ông không chớp.
Ông Dậm tức tối đứng dậy. Đôi mắt ông vằn tia máu:
- Con mụ ngu xuẩn kia! Tao đã bảo bao nhiêu lần rồi mà vẫn cứ khu khư giữ cái thằng oan gia này trong nhà à?
Bà Cả lật đật chạy lên:
- Ơ kìa, trước lúc ông về, tôi đã xích nó vào trong xó của nó rồi mà, đâu dám để phiền đến ông!
- Mày là cái thằng quái thai, thằng oan gia. Mày ám quẻ tao cả đời!
- Cha cha!
Thằng Tám vẫn cười, nhìn ông không chớp.
Ông Dậm điên tiết vớ lấy cái câu liêm, dùng hết sức của đôi cánh tay vạm vỡ chọc lấy chọc để lên xà nhà để truy đuổi thằng Tám. Ông hùng hổ chọc cho kỳ trúng thằng bé.
Thằng bé lúc đầu còn chuyền đi chuyền lại từ đòn tay này sang đòn tay khác, chạy quanh trên nóc nhà. Ông Dậm càng điên tiết.
Ông gằn giọng:
- Lần này, tao sẽ cho mày chết luôn! Mày làm tao cứ nhớ đến con mẹ trẻ Phượng và những đứa thắt cổ ở nhà này. Đêm nào tao cũng cứ thấy chúng đung đưa trên đầu dây thòng lọng. Đích thị là nòi oan gia nhà mày!
Bà Cả ngạc nhiên, van vỉ:
- Kìa ông! Doạ cho con nó sợ thôi, đừng chọc nhiều thế làm nó đau! Giọt máu của ông mà!
Ông Dậm quay sang tát vào mặt bà Cả:
- Chỉ tại mày! Trăm sự chỉ tại mày. Lúc nào cũng như trái cau điếc. Sinh ra một lũ oan gia! Hôm nay tao phải đập chết thằng này.
Cơn điên của ông Dậm càng nổi lên. Ông không chọc nữa, ông dùng câu liêm lia ngang lia dọc trên xà nhà.
Giờ thì thằng Tám không thể chạy nổi nữa.
Thân mình nó rớt máu ròng ròng vì lưỡi câu liêm sắc lẻm va phải. Nó cố đu bám xà nhà một chốc, nhưng rồi yếu sức dần dà, cái chân thứ ba rã rời, buông ra. Thằng Tám rớt bộp ngay xuống chân ông Dậm.
Ông Dậm tóm lấy nó, giơ cao lên như giơ một con mèo, đập thằng bé xuống chân bàn thờ.
Bà Cả rú lên một tiếng.
Thằng Tám giẫy dụa vài cái, miệng thều thào:
- Cha cha!…
Rồi thở hắt ra. Nó nằm im lìm trên mặt đất, sau một cái giẫy mạnh.
Máu thằng Tám chảy ướt cả mặt đất nện trước bàn thờ.
Hoá ra đó là một dòng máu đặc quánh, hồng tươi, chiếu rực lên trong ánh tranh tối tranh sáng của bàn thờ.
Gian nhà thờ bỗng rạng lên như nắng chiếu vào.
- Vô… phúc…V… ô…. ô… ph… ú… c…
Một lời nguyền rủa nghe như xa lắm, thoảng như gió thổi, tạt qua, lạnh buốt gáy ông Dậm.
Ông dậm thấy lõng thõng trước mặt hai thây người đong đưa, đôi chân đi hài xinh xắn, muốt trắng thòng trước mặt ông.
Ông Dậm hớt hải dợm bỏ chạy.
Bà Cả ôm lấy xác thằng Tám, khóc không ra tiếng, nhìn ông căm hờn.
Ông Dậm quay lại.
Xử ra sao với xác thằng Tám đây?
Ngoài kia, chỉ ở bên cạnh thôi, trong nhà hàng của con Năm, cả lũ tuỳ tùng của ông đang nhốn nháo chờ ông bên đó.
Ông Dậm nghĩ ra một cách.
Ông thét gọi bà Cả lấy cái cuốc.
Ông hùng hục cuốc lấy một hố sâu chừng một mét rưỡi dưới chân bàn thờ.
Dù đã lâu ngày không đụng đến cái cuốc, nhưng ông vẫn sử dụng thành thạo với sức khoẻ phi thường. Phải làm thật nhanh. Nếu không, sẽ có người biết việc ông giết thằng con quái thai và đem tố cáo!
Ông đào xong cái hố trong vòng mười phút.
Ông vứt thằng Tám xuống hố, rắc túi vôi bột mà bà Cả vẫn đem thả xuống ruộng chống đỉa mỗi khi lội bùn bà luôn trữ sẵn ở xó cối xay. Cuối cùng, ông chèn một cái chiếu rồi một cái cối đá lên trên xác thằng bé.
Rồi lấp đất lại. ông lại chui xuống gầm sập gụ, lấy ra những viên gạch hoa đã bóc ra từ ngày trước, lát lên như cũ.
Nền nhà thờ lại phẳng phiu như chưa từng bị bóc mất mấy viên gạch. Như chưa từng có nền đất nện. Chưa từng có cái xác của thằng Tám nằm dưới lớp vôi bột, dưới một chiếc chiếu bị gập làm tư và một cái cối đá. Cuối cùng là lớp đất thấm máu hồng

tươi của nó.
Bà Cả kinh hãi nhìn tất cả những việc ông chồng làm mà chết lặng, không kêu được một tiếng. Mọi việc diễn ra nhanh quá sức tưởng tượng. Chỉ trong vòng ba mươi phút. Không bằng bên nhà hàng của con Năm, người ta dọn một bữa cơm.
Thằng Tám của bà, thằng con có ba chân. Nỗi tủi nhục của gia đình bà. Ai cũng mong nó chết, trừ bà.
Vì bà đã trở nên lạc lõng trong cái thế giới lạ lùng rủng rỉnh tiền của và quyền lực của ông chồng, của những đứa con. Thằng Hai, thằng Ba giờ cũng làm cán bộ trên tỉnh. Bà là con chó giữ nhà, mỗi khi ông Dậm dẫn khách ở trung ương về để trưng ra với

thiên hạ rằng ông chung thuỷ, ông dịu dàng, ông giữ nề nếp gia đình đến thế nào. Dù có bà vợ già héo quắt như quả mận khô, ông vẫn có trách nhiệm, vẫn không ruồng rẫy. Vẫn là người đạo cao đức trọng có thể đi dạy dỗ làm gương cho thiên hạ.
Chỉ có thằng Tám.
Dù nó là đứa con quái thai, bị cả nhà ghẻ lạnh. Ông Dậm đã định giết nó ngay từ khi sơ sinh. Nhưng với bà, thằng Tám là người gần gũi bà nhất.
Thằng Lình – đứa con trai cả rất thương bà, vẫn đứng ra đỡ đòn cho mẹ mỗi khi ông Dậm đánh, thì đã ôm con Miên đi biệt tích, không thấy về.
Ông Dậm bước ra chỗ bể nước, lấy xà phòng xát lấy xát để lên đôi bàn tay vấy máu, đưa mắt kín đáo nhìn quanh.
Căn nhà vẫn vắng lặng. Bên nhà hàng của con Năm vẫn huyên náo. Nhưng tất cả thực khách đều đang ở trong những căn phòng máy lạnh kín mít.
Ông Dậm yên tâm dội nước cho đôi tay thật sạch. Đôi tay chuối mắn của ông đã lại trắng trẻo hồng hào như đôi tay của một bí thư, hoàn toàn có đủ tư cách vung lên, chỉ sang phải sang trái để giảng giải và chỉ đạo.
Ông Dậm quay vào, rít giọng với bà Cả đang nằm phủ phục trên nền gạch hoa mới lát – cái mộ phẳng của thằng Tám:
- Câm mồm. Chỉ tao và mày biết việc này! Hở ra thì mày biết rồi đấy. Mày biết tao có thể làm những gì!
Rồi ông đứng dậy, quay ra gọi bà Cả, giọng hách dịch, dặn: Ai hỏi thằng Tám cứ bảo nó bỏ đi đâu không biết. Mà ai quan tâm đến một thằng quái thai!
Rồi ông Dậm khoan thai bước ra ngoài, sau khi đã đứng trước gương xem xét thật kỹ bộ quần áo nâu, mặt mũi chân tay và toàn thân, cố để ý xem có vết máu nào dây ra không.
Ông thở phào yên tâm. Máu của thằng Tám quá ít. Nó quá bé nhỏ.
Ông Dậm bước sang nhà hàng bên cạnh. Nhà của con Năm. Tất cả đều là của ông. Những dãy nhà hàng này, khách sạn này.
Ông nhớ đến số vàng và kim cương mà ông đã tích trữ được trong chiếc két chôn ngầm dưới đất, trong tầng hầm một ngôi nhà nhỏ của ông trên tỉnh.
Không biết để làm gì, thỉnh thoảng ông chỉ giở ra để ngắm.
Những thoi vàng và kim cương chói sáng. Nhiều đến mức ông không biết để làm gì.
Ngày ngày, ông xuống tầng hầm, mở chúng ra và ngắm, như một kẻ thủ dâm phải nhìn thấy một chiếc quần lót của đàn bà thì mới giải toả được cơn thèm khát.
Ông Dậm cũng vậy! Ông thủ dâm bằng vàng và kim cương.
Ông đĩnh đạc bước tới căn phòng lớn nhất, con Năm vẫn dùng để thết khách quan trọng. Không đợi cậu trợ lý mở cửa đón, ông gạt ra, với một phong thái sang cả cố hạ mình tỏ ra bình dân, vẫn trong bộ quần áo nâu, ông nói, giọng sang sảng và hóm hỉnh:
- Anh em chờ có lâu không? Bận rộn quá, lâu ngày không về, cũng phải an ủi bà ấy chút đỉnh.
Ông nháy mắt. Tất cả đám tuỳ tùng bắt được nhịp, cười rộ lên vui vẻ…
© DCVOnline

Dạ tiệc quỷ – chương 9: Dạ tiệc quỷ
Võ Thị Hảo

Quay cuồng tự ăn nhau thai của chính mình
Người sống ngủ mê mệt
Những lời hát treo lủng lẳng dưới mái hiên
Màu đỏ
Một mùi tanh lợm tràn ngập, chảy ngược từ phố vào nhà.
Không gian bị bó, bị trói chặt trong những tràng cười nhạt, trong những tiếng than thở.
Một mùa đông nửa vời đang đến, cưỡng đoạt mùa thu. Một mùa thu sầu muộn, lá vàng không rụng xuống mà dai dẳng bám chết ở trên cây với những cuống lá teo quắt lại như những sợi chỉ mà người ta phải neo chặt linh hồn mình ở trên đó. Gió bị xé qua

triệu triệu sợi chỉ se sắt.
Những người bước đờ đẫn. Mắt trắng nhợt bước đi trong phố mà hồn lìa khỏi xác, bạc nhược quờ tay tìm với lấy linh hồn của mình. Không thấy. Người ta cướp đoạt linh hồn của nhau. Những hồn mới không thể sống trong những thân xác cũ. Và những

thân xác trống rỗng chảy ra từ ngực một cái dung dịch nhơn nhớt của lũ lưu manh.
Mùa thu bị cưỡng đoạt. Những đám mây phơ phới trôi ở trên cao, không biết đến ở dưới mặt đất có cả một cái biển linh hồn tán loạn đang ngập ngụa trong cái dung dịch nhơn nhớt và bị ăn mòn. Nắng vàng như mật lại tưới lên chúng một cái màu vàng

của dầu luyn và giam cầm chúng. Một cái hồ đặc sánh, những sinh vật ở dưới mặt hồ không thở, dần dần chúng mất nhu cầu thở và trở lại thành những con người đi lại cười nói yêu đương, làm lụng trên đường phố. Chân rất ngắn, mắt rất bạc và chỉnh

chiện trong những bộ com lê đắt tiền, những đôi giày da bóng lộn, dạo bước vào công sở, nhìn có vẻ khô khốc sau những bước chân nhưng hễ cứ nửa giờ sau khi những bước chân ấy đi qua thì cái thứ nước tanh nhớt lại dâng lên tràn phố.
Những lao công quét rác mải mê xúc chúng vào những cái xẻng và hót đi, hết xẻng nọ đến xẻng kia đổ tới tấp lên những chiếc xe rác ba bánh. Những chiếc xe rác ba bánh cà khổ, rỉ quèn quẹt có từ thế kỷ trước.
Mùi tanh lợm đi khắp các công sở, tràn ngập một mùi tanh lợm, lưu cữu từ ngày nọ qua tháng kia. Dân phố quen dần với mùi đó, thậm chí, những kẻ thư sinh bạch diện mới chào đời, tò te bước chân tới công sở cũng phải coi cái mùi tanh lợm ấy là một

loại dầu thơm và len lén vục mặt xuống đất, hót lấy chúng và tẩm ướp vào quần áo.
Đông cứng lại.
Không bất kỳ ai nhích lên được. Cả ba phương đều bị đóng chặt và biến thành một màu đỏ. Một cái màu đỏ không thể gọi tên. Nó là sự trộn lẫn giữa sự bỉ ổi, sự lưu manh, nước mắt và máu người, cộng với năm mươi ba cân triết lý. Nước mắt của những

người khóc vì mất, khóc vì được, khóc vì sầu muộn, khóc vì tuyệt vọng, khóc vì ngày mai, khóc vì ba phương đã bị đóng chặt, chỉ còn một phương xuống địa ngục, khóc vì cái mùa đông nhàn nhạt, bầu trời tái xám, vì một mùa thu bị cưỡng đoạt và nắng vàng

rót xuống mặt đất đã trở thành một thứ dầu luyn màu đỏ.
Không thể sống nổi! Có ai định sống không?
Năm mươi ba cân triết lý được đưa ra, nhào với bột gạo, bột mỳ, cộng thêm ba cân mọt, cộng thêm mười ba cân độc dược của các trình dược viên nâng trên tay với nụ cười tươi như hoa.
Ăn đi các bạn, các bạn hãy nhận lấy cứu cánh. Hỡi những con thỏ mang hình hài chuột bạch, thánh đường của các người nằm theo phương thẳng đứng, âm ba trăm mét so với dương thế.
Bụi Thằng Quỷ
Tiệc đêm.
Thực khách ngồi vắt vẻo trên cành cây. Những rặng ổi vặn vẹo, tán lá màu xanh đen và những đám cỏ mần trầu, cỏ đuôi gà, những cây ruối dại, những bụi hoa đồng thảo buồn hiu, đêm nay bỗng mở ra. Chúng tự thu rễ và cành lại, mở ra một khoảng trống

sáng rực ở giữa Bụi Thằng Quỷ để chào mời những thực khách.
Khăn xanh phơ phất như một áng mây không ngừng lay động. Áo tứ thân mớ bảy mớ ba, hở eo. Đôi chân nhỏ xíu đi hài gấm thêu. Đôi mắt dài có đuôi, rợp trời mi buồn thăm thẳm. Chiếc dây chuyền đeo ở cổ là một sợi dây thừng, lõng thõng, dài đến nửa

đùi, đẹp đến lạnh người. Phượng – chủ nhân của dạ tiệc, đặt dưới chân Phượng là một bàn tiệc lớn hình con quay, trên bàn sáng loà những thỏi thức ăn. Ánh sáng từ suối vàng phản chiếu qua những thỏi thức ăn không màu và hắt lên mặt thực khách một

màu tím ma quái.
- Mời ngồi!
Đám thực khách rời những cành cây, chậm rãi đến ngồi xung quanh bàn tiệc. Họ ngồi vững chãi nhưng ở dưới mông của họ không có một chiếc ghế, không một cành cây nào. Chân tay của các thực khách duỗi ra thoải mái lơ lửng. Một thực khách vàng

nghệ, đôi mắt to không một sợi lông mi, có một đầu, bốn tay và ba chân. Cái chân thứ ba là do đốt xương cụt dài ra, thòng xuống mà thành chân, kết thúc bằng một móng guốc. Ngồi phía bên phải Phượng, không ngớt ngọ nguậy chân tay. Cái miệng thiểu

não, mấp máy, thực khách vàng nghệ đưa một cánh tay nhỏ xíu, dài như một cái vòi, vươn ra nhón lấy một thỏi vuông vắn, không màu trên bàn tiệc định cho vào miệng.
Phượng trầm giọng.
- Không ăn được, Tám! Đây là các linh hồn đông lạnh.
Thằng Tám rụt tay lại như phải bỏng, ngửa cổ lên cười:
- Mẹ trẻ Phượng, sao bảo đây là dạ tiệc?
Các thực khách quanh bàn cũng nhao nhao:
- Ừ, sao bảo đây là dạ tiệc? Vậy chúng ta ăn gì mẹ trẻ Phượng?
Người đầu bàn là mẹ trẻ Phượng đứng dậy, cười. Vạt áo đong đưa, quyến rũ.
- Quỷ khác loài người. Quỷ cũng không nỡ ăn các linh hồn. Dạ tiệc của quỷ là bữa tiệc của mắt.
Phượng đặt tay lên chiếc bàn, chiếc bàn dạt sang bên cạnh. Nhẹ như một đôi chân trượt trên mặt băng.
Dậy thôi, cái gọi là bốn ngàn năm!
Lũ lượt hai đoàn người. Một người cởi trần, đóng khố, đầu quấn lông chim, dẫn năm mươi người con, nhích từng bước về phía biển.
- Ta thề không nhìn mặt!
Một người mặc váy vỏ cây, ngực trần. Đôi bầu ngực chảy xệ, đã cạn sữa, nặng nhọc dẫn năm mươi người lên núi. Từng ngón chân trần bấm vào mặt đá.
- Ta thề không nhìn mặt, cái giống bội bạc!
Khi xuống biển, năm mươi người mọc vẩy. Người dẫn đầu thì mọc sừng. Khi lên núi, năm mươi người mọc lông. Người dẫn đầu biến thành một con vượn. Con vượn hú khóc mỗi chiều tà. Và hai tay vuốt lấy vuốt để dọc bầu vú, dồn những giọt sữa trong

vắt cho đàn con bú.
Những người trên núi thì chệnh choạng đi về phía biển, còn những người dưới biển thì chệnh choạng đi về phía núi. Chẳng mấy khi gặp nhau vì hễ gặp thì họ lại đánh nhau. Cung nỏ và gậy gộc, ném đá, ném lao. Khi đánh nhau thì họ cười, sứt đầu mẻ trán

thì khóc. Những xác chết rải rác. Người đi lượm xác khi thì là người có sừng, khi là con vượn. Đôi khi, họ không nhận ra đâu là con của họ.
Những dòng người lê thê cất bước chân đi trong sương. Đó chỉ là những bộ xương. Những bộ xương buồn thiu, các khớp xương đụng vào nhau kêu lốc khốc trong gió mùa đông bắc. Tim, phổi và dạ dày, khô xào xạc, lủng lẳng, đung đưa theo mỗi bước

chân. Dạ dày trong vắt. Dưới đáy của dạ dày có một đám mờ đục, to bằng quả mận. Đó có thể là một miếng sắn hoặc củ mài. Những bộ xương gục ngã, dúi dụi đầu vào nhau, chất thành đống. Có những cẳng tay khẳng khiu, giơ lên cao, vặt lấy nhúm da

còn sót lại đang bọc lấy xương, thều thào trước khi tắt thở.
- Đói!
Nước mắt của những thực khách rơi lã chã. Phượng nhắm mắt như ngủ. Như một người đã chết cứng.
- Chúng ta đến từ đâu?
Một người đàn bà đẹp, chân thon nhỏ bó trong chiếc hài gấm, ướt đẫm vì một thứ dung dịch nhơn nhớt, bước tới. Gương mặt giống hệt gương mặt Phượng:
- Con gái ơi, cha con đang đến kìa!
Phượng mở mắt, ngẩng đầu nhìn. Đằng kia có một luồng sáng hình trăng lưỡi liềm đang bay tới. Nhìn kỹ, hoá ra đó không phải trăng lưỡi liềm mà là một người đàn ông, lưng dài, ngón tay dài, móng thon ba tấc, đôi mắt sâu, hiền minh chập chờn trên một

cái đầu đã bị bắn vỡ nát. Phượng đau đớn:
- Cha ơi! Mẹ ơi! Con không mở tiệc này cho cha và mẹ. Con nghĩ hai người đã lên Niết bàn rồi. Đây chỉ là dạ tiệc cho loài quỷ.
Ông Cử cười, bởi vì cái mảnh trăng lưỡi liềm đó là ông Cử. Cái mảnh trăng sáng ngời treo lững lờ ngay dưới con mắt.
- Không, con gái ạ! Khi cháu của ta đang đi lại trên mặt đất này thì cả quỷ lẫn tiên, không lên được Niết bàn.
Phượng nói:
- Vì sao? Con tưởng cha mẹ chết đi, chấm dứt cái khổ ải ở kiếp trước thì sẽ được siêu thoát.
Ông Cử lại cười:
- Con chết đi nguyện làm giống quỷ. Vậy con có biết, khi ta bị trói vào cọc và khi chờ những viên đạn, những vồ đập đất đập xuống đầu, con có biết ta nghĩ gì?
Phượng lắc đầu, nước mắt khô trong mắt.
- Con không biết, cha ạ!
Ông Cử nói:
- Ta nghĩ, xót thương cho những kẻ đang sắp sửa giết chết ta. Ta chỉ nhìn thấy trong đôi mắt vằn máu của chúng, cái hình ảnh mà con vừa bày ra. Những dạ tiệc mà những chuỗi người chết gục vì tao loạn, vì tăm tối và vì đói kém.
Bà Cử than thở:
- Ông chết trước mà sao linh hồn của ông không về để cứu mẹ con tôi? Để hai mẹ con tôi phải chết nhờ sợi dây thừng?
Ông Cử phẩy tay:
- Tôi đã nhìn thấy, đàn bà chỉ có một cách để thoát khỏi ô nhục. Cách của bà và con Phượng đều xưa cũ, kể cả tôi cũng xưa cũ, đung đưa trên sợi dây thừng và hồn lìa khỏi xác, chẳng phải là điều hay! Cái nước Nam này đã quá nhiều dây thừng rồi!
- Nếu không thế, chúng ta sẽ làm gì?
- Con không biết! Đôi khi, phải làm quỷ để thoát khỏi kiếp người!
Tiếng huyên náo vọng tới, át cả tiếng nói của Phượng. Thoảng trong không gian một làn hương êm êm, một dàn nhạc giao hưởng đang tấu lên một bản dịu dàng.
Lớp lớp người đen đặc ngoài kia, tiến vào. Thân hình họ đung đưa như những tàu lá dừa trong những khăn liệm thùng thình, màu cháo lòng. Trên đầu họ, một vòm hang mở ra, vút lên cao với những thạch nhũ màu bạc như vòm một nhà thờ.
Trên trần hang, trên một khối đá hình trụ, mẹ Phượng đã đứng lẫm liệt, đã vụt bay lên đó từ lúc nào.
Phượng thì thào:
- Ăn đi, vì đây là dạ tiệc. Mỗi người là một món ngon trên bàn tiệc của quỷ. Vậy chúng ta là quỷ thì chúng ta ăn gì?
Thực khách ngày một đông thêm, bỗng quấn tròn lại, mặt ngây dại như một đứa trẻ mới chào đời từ bụng của một cô trinh nữ, chui ra từ nhớt nhát. Hai tay tự gạt những đám nhau thai đang cuốn quanh mình, rồi cúi xuống, tự cắn cuống rốn, tự cuốn lấy

cuống rốn của mình như người ta cuốn nem và ăn ngon lành.
Bay tới một đứa trẻ xanh lẹt, môi đen, mắt sáng như hai chiếc đèn pha. Đứa trẻ bay tới bên cạnh đứa trẻ màu vàng nghệ, nắm lấy tay nó, và nói:
- Lão Dậm – cha ngươi đã chôn ngươi dưới chân bàn thờ, sao ngươi lại ở đây?
Đứa trẻ màu vàng nghệ, cười:
- Ông ấy không chôn được ta, ông ấy chỉ chôn chính mình. Bây giờ ông ấy đang làm ma cà rồng. Chỉ khác là ma cà rồng thì hút máu ban đêm, còn ông ấy đi hút máu ban ngày. Nhìn xem…
Ở bên trái vòm hang, mở ra, để lộ một đường phố với những ngôi nhà hình ống. Ông Dậm đang ngồi uy nghi sau một chiếc bàn, trong một ngôi nhà cao tầng, trước một hội nghị cỡ mấy trăm người. Ông đang nói, đang giảng giải, miệng cười rất tươi, đôi

mắt có vẻ nhân từ. Những người ngồi dưới lắng nghe và ghi chép. Họ không thấy rằng có một hình người trong suốt đang tách khỏi hình hài ông Dậm, bay đi, với hai ngón chân cái đút vào lỗ mũi, vụt qua cửa sổ, nhẹ nhàng xuyên qua những bức tường và

hai chiếc răng nanh cắn ngập vào cổ một ai đó rất nhanh, rất nhiều chiếc cổ. Cái hình hài đó, với cái dạ dày ngày càng phồng to như một cái thùng không đáy. Không có dấu hiệu gì trên gương mặt ông Dậm, chỉ có làn môi lúc nào trông cũng thèm thuồng,

hơi run run và giật ở mép phải.
Đứa trẻ xanh lẹt thét lên:
- Mày bay được mà không làm gì sao, Tám?
Thằng Tám cười buồn:
- Cái giống ma cà rồng không chết. Và vấn đề là những kẻ bị cắn cổ cứ co rúm vào như con nhái trước con rắn và cho rằng định mệnh của những cái cổ của họ là chiếc răng nanh của ma cà rồng.
Các thực khách bắt đầu nổi giận. Những tiếng phản đối, tung ra như nắm thóc:
- Dạ tiệc mà thế này sao?
Đứa con xanh và đứa con vàng nghệ nắm tay nhau, bay là là dưới những đám mây mang hình trâu, bò. Phượng hát:
Con ơi sao không ngủ yên
Đừng bay mỏi cánh
Lại đây
Cái ổ gai, rơm khô, giẻ rách và ngủ đi
Ngủ đi rợp mát cho các con
Bóng râm của những cánh tay, bàn chân cứng đờ
Ngàn năm đung đưa ngàn năm
Nhịp nhàng dưới những sợi dây thừng
Dạ tiệc, dạ tiệc
Cho những người không có chỗ trên mặt đất
Theo lời ru của Phượng, mắt của những thực khách trĩu xuống, hàng mi dần khép lại, in thành những bóng rợp trên những gò má hốc hác hoặc những gò má đã bị mất.
Ngủ đi, ngủ đi và ngủ đi!
Bởi vì chúng ta không bao giờ được ngủ. Ta đã tìm đến một giấc ngủ, ta đã bị cưỡng bức đến một giấc ngủ nhưng mặt đất ngập ngụa những tanh nhờn, nhưng mùa đông đã cưỡng đoạt mùa thu và trước đó, mùa hạ cũng đã cưỡng đoạt mùa xuân. Mùa

xuân vàng vọt, teo đét lại, mỏng như một chiếc lá úa và rũa nát chỉ còn những gân lá và chẳng ai ngủ, không ai được ngủ.
Phượng đặt tay lên bàn.
- Mỗi một viên thạch này nhốt một linh hồn của những người trên dương thế. Bây giờ ăn nó đi, nuốt chửng vào bụng. Vì ta là quỷ, khi ta nhả chúng ra, có thể những linh hồn đã thoát ra khỏi những miếng thạch đông lạnh và khi đó, loài quỷ của chúng ta, có

thể sẽ yên tâm đi về Niết bàn.
Mỗi thực khách trong dạ tiệc, lần lượt đến bên bàn. Phượng dùng ba ngón tay thon mềm, nhón lấy mỗi một viên thạch cho vào miệng những thực khách. Cái nhìn ban phước như một linh mục đang thả vào miệng con chiên những mẩu bánh thánh.
- Chết đi! Những viên thạch đông lạnh, để rồi thức dậy trong những chiếc bụng, trong những bao tử nóng rẫy của loài quỷ chúng ta. Các người sẽ ra khỏi giấc mê muội ngàn năm.
Những thực khách nuốt chửng những miếng thạch đông lạnh. Rồi lần lượt nằm xuống và ngủ. Bừng lên như từ dưới đáy địa ngục những luồng ánh sáng huy hoàng. Đám quỷ vẫn ngủ say. Mắt nhắm chặt. Họ không biết rằng bao tử của họ đang đau dữ dội

và từ miệng của họ, giữa hai hàm răng nghiến chặt, giữa đôi làn môi bỗng hé mở, nhảy bật ra một con người.
Những con người non bấy, trần truồng, run bẩy, ngác ngơ, tìm đường quờ quạng lên mặt đất. Dòng người đi lũ lượt, đón nhận trở lại linh hồn của mình.
Có một luồng sáng vụt qua đầu họ. Họ không hề hay biết, chỉ chợt lấy tay lên che mắt vì ánh chói loà.
Có một người đàn bà yểu điệu, lưng ong thắt đáy, ngực đầy sữa, áo mớ bảy mớ ba, mắt dài chợt buồn thăm thẳm, cổ đeo sợi dây thừng lõng thõng, bệt bằng lông lợn, vừa vụt bay qua trên đầu họ.
Phượng!
Mẹ trẻ Phượng đang bay vụt theo hai chiếc răng nanh nhe ra trắng ởn là là bay ngang thành phố. Một tiếng nhẹ rơi ra như một tiếng thì thào.
- Ta xem đến lượt cổ ai đây.
Khi đó, ông Dậm vẫn ngồi uy nghi cười rất nhân từ trước một hội nghị. Chỉ có ai tinh ý mới nhìn thấy cái miệng thòm thèm với khoé miệng bên phải hơi máy giật.
© DCVOnline

Dạ tiệc quỷ – chương 10: Bức thư báo giờ chết
Võ Thị Hảo

Có những người đến xem xác ấy trong ba ngày rưỡi…
(Kinh thánh – Tân ước)

Một nhóm điều tra gồm ba thám tử, do Hoàng – một cán bộ an ninh đã giải nghệ được cậu Cả giao nhiệm vụ đặc biệt, được đón đến trong một chiếc xe lớn màu đen, bóng loáng và kín mít. Chui ra khỏi xe là ba người mặc quần bò áo phông, như dân đi

chơi, như đám bạn vẫn bù khú của cậu Út. Hàng xóm vẫn chưa hề hay biết chuyện tày trời vừa xẩy ra trong ngôi biệt thự có rào dây thép gai. Không ai nghi hoặc về sự bình yên của ngôi nhà này.
Nhạc vẫn không ngừng phát ra từ chiếc máy. Giai điệu của bài I love you.
Nhóm điều tra sững người vì quang cảnh bất ngờ bày ra trước mắt họ.
Máu ông Thạc từng giọt từng giọt nhểu qua những thoi vàng.
Vô số thoi vàng ken sít nhau tạo thành mặt đệm chói lọi hoà với màu đỏ sẫm của máu.
Một màu vàng ảm đạm phản chiếu trở lại trần nhà lộng lẫy. Ánh sáng tán xạ lên gấp cả chục lần ánh chói loà của những thoi vàng trong bức tranh pha lê khảm hình thiên thần bằng vàng và những đám mây hồng.
Vàng không thấm máu.
Máu chuội đi từng giọt lưỡng lự rồi lăn tròn. Chúng chờ nhau trên mặt đệm vàng, lưỡng lự nhập thành những đường rãnh nhỏ. Những rãnh nhỏ tìm chỗ thấp mà chảy, âm thầm rỉ xuyên qua lớp đệm dày. Máu nặng nhọc nhểu xuống sàn nhà gỗ mun, nhuộm

màu đen lánh của gỗ, hoà với màu đỏ sẫm của máu thành một màu đen ma quái. Như một miệng cống ùn tắc bởi rác rưởi, máu đọng thành vũng trên nền nhà và đã bắt đầu quện khô, mép vũng đã cong dầy lên viền lấy những vũng máu.
Bức tranh pha lê trên trần phản chiếu gương mặt của người chết.
Đôi mắt ông ta trợn tròn như kinh ngạc. Lông mày hình dấu ngã. Hai hàm răng nghiến chặt. Đôi môi trắng nhợt nhành ra, nhường chỗ cho đôi hàm răng dày, đều, ken sít như nanh sói.
Trên thi thể, màu xanh nhợt của xác chết đã ăn hết đôi bàn chân, thành màu vàng sáp. Màu xanh nhợt ăn lên đôi bàn tay, trở thành như đôi miếng lót đế giày bằng cao su sơ chế thô thiển.
Trên bộ pyjama bằng lụa Myanma màu vàng hoàng cung, bàn tay phải của người chết giơ lên khum khum ngang mặt, như muốn che đỡ như muốn xua đuổi. Trong bàn tay trái buông thõng xuống thành giường còn nắm chặt một bức thư không nhuốm máu.
Màu xanh nhợt ăn lên tinh mũi, thành một vệt đen như con giun đất vắt ngang.
Những nếp nhàu của bức thư trong bàn tay người chết chứng tỏ nó đã được đọc đi đọc lại nhiều lần, thậm chí còn bị ai đó nổi điên vò nát, quẳng vào sọt rác rồi sau đó mới tìm lại và vuốt phẳng. Cái cách đặt ngón tay cái cứng đờ, hững hờ trên bức thư

mách bảo rằng có thể nó đã được hung thủ luồn vào tay người chết sau khi đã hoàn tất công việc. Thư được viết từ một chiếc máy vi tính, font chữ Unicode, in ra trên khổ giấy A4.
“Kính ông,
Bậc đại nhân đại đức đại trí đại dũng trong thiên hạ.
Cách nay mười lăm ngày tôi đã có mạo muội báo trước cho ông rằng hãy cố gắng trong khi còn chưa quá muộn để đề phòng cái chết của ông.
Và tôi đã nhắn rằng ông hãy làm tất cả để giữ lấy cái đống tài sản khổng lồ và những đồng đô la mà ông đang gửi tại nhà băng Thụy Sĩ.
Còn những đồng đô la đang trên đường trung chuyển ra nước ngoài dưới vỏ bọc một sòng bạc quốc tế tại đảo Tân Châu. Mong ông hãy cẩn thận. Tôi nhìn thấy máu người trong đống tài sản và những đồng đô la của ông.
Tôi còn biết rằng, khi nhận bức thư của kẻ hèn này, thoạt tiên ông cười khinh khi.
Nhưng mười lăm phút sau, không chừng ông bắt đầu xao xuyến.
Bằng cứ là ông đã làm đổ ly rượu giá một trăm đô la vào vạt complet bằng tơ tằm hạng nhất của Ấn Độ, trong khi đang thù tiếp cấp trên tại Nhất dạ đế vương mang cái tên khiêm tốn là Hạnh hoa tửu lâu.
Tôi còn thấy rõ, khi về đến nhà, ông đã quẳng ngay bộ quần áo trị giá ba mươi triệu đồng đó vào sọt rác tự huỷ. Ông không thèm ngó lại một lần, không chút tiếc của.
Trong tủ ở phòng thay quần áo của ông còn có ít nhất ba chục bộ tương tự và hơn thế chờ sẵn. Đủ các màu sắc, kiểu dáng do các tay thợ sành điệu từ Pari, Roma, Luân đôn cắt dựng so với khuôn người của ông không sai một ly.
Và cũng khoảng chừng đó bộ complet xuất xứ từ những tiệm may nổi tiếng vừa kể, vừa rời xưởng là đến những địa chỉ đặt sẵn. Ông có biệt tài và có công phu chăm sóc được nhiều thứ cho các ông lớn. Những bộ complet đắt tiền được ông tính toán gửi

vào nơi thật đắc địa. Những bộ complet đẹp đến mức có thể biến khỉ thành người và chúng đã biến những tay nông dân pha lưu manh, những kẻ du thủ du thực mang tư cách mõ trở thành những quan chức đáng nể mặt nếu thoạt trông thấy ngoài đời

hoặc trên truyền hình.
Ông quá giàu có.
Nhưng đáng thương cho ông là dù giàu đến đâu, ông cũng không thoát khỏi lối chơi ngông của một gã trọc phú. Ông chưa đã cơn khát vàng dù ngồi trên cả đống vàng, đến mức ken cả vàng khối làm đệm nằm.
Đêm đêm ngả lưng trên chiếc giường lạnh cứng, ông chỉ ngủ được khi những thoi vàng đâm vào lưng nhoi nhói, để ông quên ám ảnh về thời đói kém, với những thuở kéo cày thay trâu và bị người ta giật miếng cơm ra khỏi miệng.
Thực ra, đệm vàng ông nằm, những bộ complet đắt tiền ông mặc, và đống tài sản kếch xù ông có được cũng chỉ là do ông giật miếng cơm trên miệng của nhiều người khác mà thôi.
Và tôi cũng nhìn thấy ông không dưới ba lần lôi bức thư tội nghiệp của tôi từ trong sọt rác ra vuốt phẳng lại.
Rồi ông giao cho tên tay chân thân tín của ông trong lực lượng an ninh đi dò tìm mẫu tự. Cả một đại đội an ninh đi dò tìm.
Tiếc thay, tay chân thân tín của ông cũng chỉ là người trần mắt thịt mà thôi.
Và tôi cũng đã thấy cái cách ông bất đẵc dĩ chuyển một nửa tài sản của ông cho hai cậu quý tử.
Riêng cậu Út, tôi có thể báo trước tương lai của những đồng tiền đang nằm trong tay cậu ta.
Trước đây, hồi ông mới nổi sau ba phi vụ làm ăn đầu tiên, cậu Út đã lấy đồng một trăm ngàn gói vào giấy vệ sinh đi toa lét hàng ngày.
Cậu ấy làm thế cũng là để trả thù cái thời ông giả nghèo giả khổ, vờ thanh liêm trong sạch đạo cao đức trọng, chí công vô tư.
Thời đó chỉ kéo dài chừng mười năm.
Đủ để ông lên đến cái chức béo bở này.
Mười năm rồi cũng qua mốt quan chức chí công vô tư. Lâu nay thì đã sang mốt quan chức khoe giàu khoe sang công khai và bộc lộ khả năng bóp nặn dân chúng công khai. Ông bao giờ cũng hợp thời. Nhưng với cậu Út, thì mười năm giả nghèo giả khổ

lại là một vấn đề khác.
Cậu Út đã bí mật ngồi vài ngày trên nóc nhà ông để quan sát vẻ kinh hoàng của đám thợ thông cống khi nhìn thấy vô số đồng tiền một trăm ngàn gần nát mủn từ trong bể phốt nhà ông trôi ra.
Họ đã khóc và nguyền rủa. Trong số họ nhiều người không có nổi lấy một trăm ngàn để trả tiền học thêm cho con.
Nếu với đống tài sản vừa được ông chia cho này, tôi tin rằng cậu ta sẽ giàu có cỡ triệu đô, thành tư bản trong vòng khoảng mười năm rồi phá sản.
Và tôi chúc cho cậu Út sau này kiếm được công việc gì đó khả dĩ hơn những người công nhân vệ sinh tội nghiệp đã nhìn những đồng tiền mủn nát dưới bể phốt nhà ông.
Không chỉ thiếu tiền cho con học hành, bản thân họ nhiều khi cũng ước có được vài trăm ngàn đủ để mua ba mũi thuốc kháng sinh chữa khỏi bệnh viêm phế quản, bệnh mắt toét gây ra do suốt đời phải chung thân với các bể phốt bị ô nhiễm.
Tôi cũng nhìn thấy cái cung cách mà những đồng đô-la kếch xù của ông đang trên đường vào tay cậu Cả.
Cậu Cả thì khôn ngoan, cũng đang trong thời giả nghèo giả khổ để che đậy cái giàu nứt đố đổ vách do giỏi đục khoét ngân quỹ xoá đói giảm nghèo.
Cậu Cả giỏi đóng kịch. Quanh năm mặc quần tím than áo trắng rung rúc, đi xe máy Honda loại tầm thường. Ngồi trên đống của nhưng được cái đủ bản lĩnh bấm bụng giản dị. Cậu được tiếng chan hoà với quần chúng và luôn được phiếu bầu cao trong

những cuộc bỏ phiếu kín vì nổi tiếng liêm khiết và hoà mình.
Cậu lại còn học được tiếng của người dân tộc thiểu số, lên vùng đồng bào nói năng lơ lớ, lại còn giỏi biết múa xoè, uống rượu chéo cánh, ăn muối ớt thịt chuột, thịt nhái cùng quần chúng, thường rút tiền và kẹo cho đám con nít ùa ra xem người lạ, cũng

giỏi bấm bụng chịu mũi dãi để bế bồng và hôn hít lũ trẻ cởi truồng hôi hám tại các làng bản, dù trong thâm tâm chỉ muốn vứt bộp chúng xuống đất cho chúng chết quách, cho thoát nợ.
Quần chúng yêu quý cậu như thánh sống. Cơ chừng cậu còn lên cao hơn cả chức thứ trưởng.
Cậu giản dị lắm, và còn giản dị trong vài năm nữa, khi việc lớn đã thành.
Cậu chỉ có cái thú không được giản dị lắm là thỉnh thoảng giở hộp kim cương ra ngắm và hẹn ngày nhân chúng lên hàng trăm hàng vạn lần. Còn bây giờ thì cậu Cả chia một số viên kim cương đó thành những phần nhỏ, đánh thành những chiếc nhẫn kim

cương rồi lựa dịp mà dịu dàng lồng vào ngón tay của một số người.
Đó là ngón tay của một số phu nhân và quan chức thanh liêm kiên quyết không nhận tiền và quà mừng tuổi, chê tiền chê vàng chê đô-la, chỉ thích kim cương và ngân phiếu mệnh giá lớn chuyển khoản từ những nhà băng kín mít ở nước ngoài, như Thụy Sĩ

chẳng hạn.
Những vị đó, tổng thu nhập cộng lại, cả sổ đen sổ đỏ của cơ quan cộng lại, thì được hai triệu rưỡi một tháng. Nhưng lại đủ tiền nuôi cả một huyện sung sướng cùng đội ngũ kẻ hầu người hạ.
Lương hai triệu rưỡi một tháng nhưng họ nuôi vài ba con du học ở Mỹ ở Anh. Họ mua nhà lớn, mua ô tô cho con bên đó để thỉnh thoảng lấy cớ chữa bệnh đưa cả nhà sang đó ăn nghỉ, dắt nhau vào sòng bạc và những nhà hàng đắt tiền nhất.
Lương hai triệu rưỡi một tháng nhưng đủ sức để kéo đội ngũ cỡ một trung đội từ quê lên để chốt vào những vị trí tầm thường đại loại như kế toán trưởng tổng công ty, vụ trưởng tổ chức, chủ tịch hội đồng thẩm định dự án đấu thầu cấp tỉnh cấp thành phố

hoặc giám đốc công ty xây dựng cầu cảng và dầu khí chẳng hạn.
Và một trong những đồng chí hợp tác đắc lực với ông là bố con nhà ông Dậm. Chuyện ông Dậm thì hơi dài. Ông sẽ nghe tiếp những chương ly kỳ về đồng chí của ông ở dưới địa ngục.
Các vị này thanh liêm lắm. Lương hai triệu rưỡi một tháng, đa cảm rỏ nước mắt khi đi thăm đồng bào bị bão lụt, sụt sịt quệt mũi khi thăm nạn nhân chất độc màu da cam, vô cùng hùng hồn khi chém tay trong không khí kêu gọi phải thắt lưng buộc bụng xây

dựng chủ nghĩa xã hội.
Các vị này khỉnh miệt cả một trăm ngàn đồng năm trăm ngàn đồng và những chục triệu đồng, tóm lại là đã ngán tiền, chỉ mê kim cương.
Họ chỉ còn cái thú ganh đua ánh sáng chói lọi trong bàn tay từ những viên kim cương lạ kiểu ở dưới gầm bàn.
Cậu Cả của ngài là một người tinh tế. Cậu ta đang đi theo con đường của Lã Bất Vi. Có khác chăng, Lã Bất Vi thì vất vả hơn cậu. Ông ta dùng những đồng tiền mồ hôi nước mắt thuở đang làm kinh doanh, tích cóp được từ ngày hàn vi để buôn vua.
Còn cậu Cả thì dùng những đồng tiền mà cha con ông khoắng ra từ những cái két công quỹ, cái gọi là “tài sản tập thể” để buôn vua.
Bố con ngài, về nhân cách còn thua hơn Lã Bất Vi nhiều lần.
Bố con ngài đang phát đạt trên con đường buôn vua.
Và cậu Cả sẽ có một ngày đột ngột xuất hiện, rỡ ràng chói lọi trên quan trường với vị thế khả dĩ chi phối nền kinh tế của cả đất nước. Nếu…
Vâng nếu không có kẻ hèn này.
Thưa quí ngài đại nhân đại đức đại trí đại dũng trong thiên hạ. Nếu một ngày không có tôi, tất cả những chuyện đó sẽ thành sự thật….
Vĩnh biệt ngài. Và lần lượt gửi đến những lời chào vĩnh biệt đối với những kẻ đại đạo đức giả như ngài.
Người vô hình.
TB. Để nhà chức trách dễ nhận diện kẻ giết người, tôi xin để lại ba sợi tóc của tôi để các vị có thể phân tích tìm mẫu ADN. Chúc các vị mau chóng thăng tiến trên con đường sự nghiệp”.
Chiếc đĩa CD có đính ba sợi tóc đang bay phơ phất trên mặt nghiêng của đĩa. Một cạnh đĩa cắm ngập vào yết hầu nạn nhân như một lưỡi dao được bắn ra từ cỗ máy vi tính có mãnh lực siêu phàm.
* * *
Hoàng qua một giây phút sững sờ, cố kiềm chế không hé miệng bình luận. Anh ta hối thúc cả nhóm mặc quần áo chuyên dụng kín mít từ đầu đến chân, trông như những bóng ma màu trắng, trông càng rùng rợn bên xác ông Thạc.
Sau một hồi lúi húi lấy mẫu máu, phân tích qua một thiết bị nhỏ mang theo, trưởng nhóm tuyên bố:
- Chết hai ngày rồi. Trình, lấy dấu vân tay. Thanh, chụp ảnh.
Ông ta hất hàm sang hai phụ tá đang loay hoay quan sát xác chết. Hai phụ tá lúi húi rắc bột, chụp ảnh, tìm kiếm vân tay.
Sau một hồi săm soi viên phụ tá cao và gầy tên là Trình thốt lên:
- Hung thủ cáo già! Không để lại một dấu vân tay nào.
- Đôi khi vẫn thế. Có thể hung thủ dùng găng tay. Xem kỹ vết giầy.
- Tịnh không vết giầy. Trên bậu cửa sổ cũng không. Nãy giờ tôi đã xem kỹ.
Vị phụ tá thứ hai dáng thấp bé chắc như tảng đá cuội, lên tiếng.
- Thế dấu giầy của ai đây? Viên trưởng nhóm điều tra chỉ vào một vết giầy dính máu in trên sàn nhà.
- Tôi đã so. Đây là dấu giầy của vợ và con nạn nhân.
Hoàng khoát tay chán nản.
- Ta có thể xem mẫu tự từ bức thư của hung thủ và ba sợi tóc hắn đính trên hung khí.
- Vô ích. Hung thủ dựng hiện trường giả để đánh lạc hướng điều tra. Hoặc như hai vụ trước mà thôi.
- Kết quả phân tích ADN trên ba sợi tóc của hai vụ trước thế nào?
- Không thể nhận nổi. Có một đoạn nhiễm sắc thể làm nhiễu, máy không nhập được.
Bỗng viên phụ tá lùn hơn nãy giờ đang loay hoay ở gần xác nạn nhân, kêu lên:
- Còn một bức thư nữa!
Bức thư thứ hai được đưa ra soi dưới ánh sáng của loại đèn đặc biệt vẫn dùng trong điều tra:
“…Thưa quý ông đại nhân đại đức đại trí đại dũng trong thiên hạ.
Nếu một ngày không có tôi…
Tôi e rằng sau cái chết của ông, một đôi điều sẽ được phơi bày và sáng tỏ.
Ông huỷ bức thư này làm gì, vô ích.
Bản cáo trạng cụ thể về những hành vi đẹp đẽ của ông, tôi đã cho in vào một thứ vũ khí thật giản dị mà hợp thời đại: một cái đĩa CD dùng cho máy vi tính. Và những ổ USB sắc như một lưỡi dao nhọn. Tôi sẽ cập nhật vũ khí, theo sự phát triển cao vọt của

công nghệ thông tin.
Ông sẽ chết, với chiếc đĩa CD găm vào cổ, trong một ngày thích hợp.
Cái ngày mà hoàng hôn rất đẹp.
Nắng sẽ tắt để báo hiệu sự cáo chung.
Và màn đêm sẽ đưa tang những kẻ tham nhũng và giả dối, cho thế giới này được hồi sinh.
Thế giới phải thoát khỏi những dòng máu tanh tưởi của những con bạch tuộc nhớp nhúa như ông.
Thế giới phải được gột rửa bởi những người như tôi.
Ông biết không, vì ông – chính vì những người như ông, mà nhiều lần tôi muốn huỷ diệt thế giới.
Đập bỏ thế giới này, như đập bỏ một con lợn bằng đất. Để làm lại một thế giới khác, sạch sẽ hơn, công bằng hơn, ít kẻ phải khóc, phải tù đày và phải chết oan hơn!
Đất Mẹ phải được trả lại mùi thơm hoang dại của đất và cỏ cây. Đất Mẹ phải được quyền chối từ đón nhận những cái xác tanh tưởi như của ông.
Đất Mẹ phải được quyền chối từ những kẻ giả dối và bẩn thỉu.
Màn đêm dịu dàng cũng đang đòi quyền từ chối đấy. Chúng đòi từ chối phải làm chiếc chăn phủ lên những thi hài nhớp nhúa, mà sự tồn tại mỗi ngày sẽ làm cho màn đêm nhờ nhợt như máu loãng và thế giới này mãi trằn trọc không sao nghỉ ngơi nổi.
Khi ông nằm đây, và dòi bọ bắt đầu âu yếm đẻ trứng lên xác chết của ông, lên cái mồm đạo đức giả của ông, thì bản cáo trạng về ông đã được phát tán trên mạng Internet.
Các ông dùng tường lửa để chặn những thông tin về sự nhớp nhúa của các ông sao?
Vô ích. Tôi quỳ xuống, Cảm ơn thời đại Thế giới phẳng. Với một cú click chuột, loài người đều biết những gì phải biết.
Ông biết, với những dữ liệu thế này, ông hiểu rất rõ, rằng không thể huỷ hoại được.
Nó được nhân bản, trong một bộ nhớ nào đó. Không phải trong một két sắt, như kim cương và những ngân phiếu của ông đâu.
Một trong những bức thư như thế này, tôi đã gửi lên bộ lưu trữ của mạng Yahoo. Chỉ để loài người phải nhớ về những ác mộng để ghê tởm nó và tránh xa nó.
Tôi dài dòng đấy. Tôi vốn là người yêu văn chương. Nhưng đây là cáo trạng. Một bản cáo trạng không được lập bởi những bàn tay chính thống, và được tuyên đọc bởi một toà án với vành móng ngựa thực sự được thiết lập tại một phòng xử uy nghi nào

đó.
Vì ông biết đấy. Với cung cách móc ngoặc đã thành kỹ năng, với cung cách những kẻ như ông kết thành một giai tầng, và cung cách chia chác mỗi người một chút để sống còn và bôi bẩn, việc điều tra tội phạm của các ông đối với nhà chức trách là bất

khả.
Đó là chưa nói, thường thì các nhà chức trách không muốn điều tra, không thèm điều tra hoặc tuyên án, và nhiều khi họ đã làm ngược lại.
Vì thế, tôi mới phải ra tay.
Lẽ ra, tôi được sinh ra chỉ để yêu. Để đẹp. Muốn đàn ông và đàn bà bị quyến rũ vì vẻ đẹp của tôi. Tôi sinh ra để làm nghệ sĩ. Để ngợi ca cuộc sống và để phát kiến ra muôn cách yêu thương để dâng tặng loài người.
Nhưng tôi đã phải ra tay. Vì có những người như ông.
Ngoài kia, vì những người như ông mà thiên hạ đói kém, mà oan khuất, mà thất nghiệp. Và theo gương các ông để lưu manh hoá, để hèn hạ và trẻ con mới chào đời cũng phải học cách cất lên tiếng khóc giả dối vì từ trong bụng mẹ, chúng đã được uống

dòng máu giả dối.
Vì thế, tôi đã học, để rành rọt về kỹ thuật và những ngón nghề ám sát.
Tôi chẳng là ai.
Vì thế tôi nhìn thấy tất cả.
Thôi!
Đã đến lúc buộc ông phải dừng lại.
Vĩnh biệt ông!
Và lần lượt gửi đến những lời chào vĩnh biệt đối với những kẻ đạo đức giả như ông.
CD
TB:
Chúc các vị thăng tiến trên con đường sự nghiệp bằng cách đưa tôi ra dựa cột.
Tôi không muốn nạn nhân của mình, trước khi chết, vẫn lẫn lộn về các sự kiện và tình huống đã đẩy họ đến mức khiêu khích tôi phải ra tay. Kèm theo đây là bản niên biểu liệt kê những tội ác ông đã làm, những sự giả dối ông đã rao giảng, những điều tốt

đẹp ông đã huỷ hoại, những bước tiến ông đã làm trì hoãn chỉ vì quyền lợi của ông.
Ông có thể kiểm tra xem tôi có công bằng không”.
Chiếc đĩa CD đang cắm gần ngập yết hầu nạn nhân có ba sợi tóc dài cỡ 15cm vẫn bay phơ phất.
Hoàng dùng găng tay gượng nhẹ gỡ chiếc đĩa CD bỏ vào túi nhựa để bảo quản tang vật. Anh ta đã phải dùng hết sức bình sinh mới rút được chiếc đĩa CD ra khỏi cổ nạn nhân.
Bỗng anh ta kêu ối một tiếng đau đớn.
Chiếc đĩa CD đã vướng vào cổ tay anh ta, để lại một vết cứa mảnh như sợi tóc và rớm máu.
Trong vết rớm máu đó đã hoà một chút máu của người chết.
Hoàng lảo đảo.
Hoàng đổ dần xuống sàn nhà vẫn loang máu của người chết.
Ánh lên xanh rợn cái màu của cửa kính lọc ánh mặt trời chiếu xiên vào, lẫn trong tiếng nhặng bay.
Khi Hoàng gượng đứng dậy được, Thanh và viên trưởng nhóm điều tra đã kịp dùng drap trải giường đắp kín mặt nạn nhân.
- Mang ông ta đi. Nhân vật tầm cỡ thế này cũng phải ướp lạnh bẩy ngày chờ kết quả điều tra và chờ chuẩn bị lễ viếng trọng thể.
Trình quay sang Hoàng:
- Anh ổn chứ?
Bỗng Hoàng hét lên, như một người điên;
- Không ổn. Không có gì là ổn cả!
Mắt Hoàng bỗng dại lạc đi. Và con ngươi dần biến đổi…
Bỗng anh ú ớ chỉ lên trần nhà, miệng ngọng líu:
- Có cái… gì trên kia!
Cả Trình, cậu Cả, cậu Út cùng nhìn lên theo tay chỉ của Hoàng. Chỉ thấy trần nhà rùng mình – lả tả rơi xuống những tảng nặng, ruồi và dòi bọ.
Hoàng nhìn lên ngón tay bị cứa – nhìn thấy ba con dòi đang từ cổ ông Thạc tìm cách chui vào vết đứt ở tay anh.
Hoàng ghê sợ hét lên cố sức gạt con dòi ra khỏi tay, nhưng nó bám chặt lấy không có cách gì gỡ được.
Hoàng nghiến răng, dùng dao chặt đứt ngón tay đeo nhẫn.
Ngón tay rơi ra.
Và lũ dòi bọ từ xác ông Thạc lổm ngổm bò sang.
Trong phút chốc, cả ngón tay chỉ còn là đốt xương trắng.
© DCVOnline