CHUYỆN LÀNG NGÀY ẤY

Võ Văn Trực

LTS: Trong thập niên 1990 của thế kỷ trước, một cuốn sách đã được in ở Việt Nam nhưng khi in xong lại không được phép phát hành, đó là cuốn Chuyện Làng Ngày Ấy của nhà văn Võ Văn Trực. Năm 2005 tạp chí Văn Học tại California, Hoa Kỳ đã xuất bản cuốn sách này. Nay Diễn Đàn Thế Kỷ xin đăng lại toàn bộ tác phẩm, với “Lời nhà xuất bản” của Văn Học trong lần in đầu tiên. DĐTK

 

Lời nhà xuất bản

Bạn đọc đang cầm trên tay một trong hàng trăm cuốn sách đang bị cấm lưu hành ở Việt Nam. Những cuốn sách bị cấm này có nhiều số phận khác nhau. Hoặc nó chỉ xuất hiện một lần duy nhất tại một Nhà xuất bản trong nước rồi bị cấm tiệt như: Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Vào đời của Hà Minh Tuân, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, Ly thân của Trần Mạnh Hảo… hoặc có những cuốn chỉ vừa mới in xong đã bị thu hồi, cấm không được phát hành như Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, bản dịch của Nguyễn Quang A, thơ Chân dung của Xuân Sách… Trong nhiều trường hợp, có những cuốn sách tuy đã lọt lưới kiểm duyệt của các biên tập viên Nhà xuất bản nhưng lại bị “các cơ quan chức năng” trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng kịp thời phát hiện nên có lệnh thu hồi và lắm khi người được lệnh ký quyết định thu hồi lại chính là kẻ đã ký cho nó ra mắt tức các ông Giám đốc của các Nhà xuất bản!

Hằng năm có cả chục “cuốn sách bị cấm” như thế mà lý do thông thường được nêu ra là đã “bôi đen xã hội”, đã “gây mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước” vân vân...

Với chủ trương sẽ lần lượt đưa ra ngoài ánh sáng những cuốn sách đã từng nằm trong cái số phậm hẩm hiu, đen tối kể trên, nhà xuất bản Tạp Chí Văn Học xin giới thiệu với bạn đọc cuốn đầu tiên trong loại sách này: Tác phẩm Chuyện Làng Ngày Ấy của nhà văn Võ Văn Trực.

“Chuyện làng ngày ấy” do NXB Lao Động Hà Nội ấn hành vào tháng Sáu năm 1993 do nhà văn Xuân Cang chịu trách nhiệm xuất bản, nhà văn Ma Văn Kháng chịu trách nhiệm bản thảo. Mặc dầu cuốn sách có giấy phép chính thức của Cục xuất bản Bộ Văn Hóa số 43 VH/LĐ nhưng chưa ra khỏi nhà in đã bị thu hồi cấm phát hành và bị “chôn sống” trong kho với một lệnh niêm phong “vô thời hạn”.

Võ Văn Trực được biết như một nhà thơ đảng viên, Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ trung ương, công tác lâu năm tại cơ quan Hội Nhà Văn, về hưu sau khi có sách bị cấm. Như “mấy lời tâm sự” của tác giả ở cuối sách: “Chuyện làng ngày ấy là chuyện làng xóm, gia tộc, gia đình xẩy ra những năm sau Cách Mạng tháng Tám. Tôi ghi lại một cách trung thực những điều tôi nghe, tôi thấy, tôi biết...”

Chính vì “ghi lại một cách trung thực” qua cái nhìn của một nhà văn lúc về già nhìn lại nên Chuyện Làng Ngày Ấy thực sự là một cuốn biên niên sử sinh động về cuộc cách mạng ruộng đất, “đào tận gốc, trốc tận rễ” tất cả những gì bị kết tội là “thuộc xã hội cũ” ở làng quê Việt Nam. Trong vẻn vẹn có gần 200 trang in, Võ Văn Trực cứ lặng lẽ, từ tốn và chậm rãi đưa ra rất nhiều “sự thực của lịch sử” mới nghe tưởng chuyện tầm thường, ngẫm lại mới thấy bàng hoàng, xót xa. Và rồi gấp sách lại, người ta thấy rõ cái mô hình cộng sinh từ ngàn đời nay của dân quê Việt Nam vẫn là làng xóm chứ tuyệt nhiên không phải những hợp tác xã nông nghiệp, những tập đoàn sản xuất theo mô hình Cộng Sản.

Mọi mưu toan xóa bỏ đơn vị “làng xóm”, thay thế bằng những thiết chế kìm kẹp khác, đều phá vỡ cân bằng môi trường sinh tồn của dân tộc, đều bộc lộ những ảo tưởng của những đầu óc nông cạn. Đó là cái tài tình của Võ Văn Trực khi không cần lôi kéo mà ông cũng vẫn dẫn người đọc đi đến kết luận đó...

Ngay từ hồi chủ nghĩa cộng sản mới giành được thắng lợi ở nước Nga Sa hoàng, một nhà báo tên là Prudon đã vạch trần một sự thực mà cho đến nay mọi người mới thấy là ông đã có tầm nhìn xa hàng thế kỷ: “Chủ nghĩa cộng sản là sự đánh đồng cái đẹp với cái xấu, cái thiện với cái ác, cái cao thượng với cái ti tiện...”. Cuốn Chuyện Làng Ngày Ấy là một minh chứng rất sinh động và cụ thể cho lời nhận xét kể trên của Prudon.

Từ thượng cổ, con người vẫn có hai cơ chế kiểm soát: ở bên trong là trời Phật, ở bên ngoài là luật pháp và miệng tiếng người đời. Chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ cả hai cơ chế kiểm soát con người bên trong và bên ngoài để thiết lập một cơ chế kiểm soát toàn trị bằng một ý thức hệ thô thiển, giản lược hóa con người vào những mô hình kinh tế, bằng các tổ chức quản lý thực chất là kìm kẹp, bằng những chủ trương, chính sách đường lối dựa trên một “khế ước xã hội” áp đặt lên toàn dân: Đảng là mặt trời duy nhất, và quyền lợi của Đảng là tối cao, cao hơn cả dân tộc và lịch sử.

Để tuyệt đối hóa vai trò bao trùm của mình lên toàn xã hội, vào thời kỳ đó, Đảng chủ trương phải xóa bỏ cơ chế kiểm soát bên trong con người cũ, thiết lập cơ chế kiểm soát mới bằng xóa bỏ giáo lý của tôn giáo, chôn vùi huyền thoại của tín ngưỡng, thay thế chúng bằng những tín điều cộng sản, xóa bỏ thần Phật thay thế bằng hình ảnh các lãnh tụ.

Qua Chuyện Làng Ngày Ấy, tác giả Võ Văn Trực bằng những hình ảnh sinh động đã khắc họa bức tranh toàn cảnh của một làng quê Việt Nam vào thời chủ nghĩa Cộng Sản khởi sự đâm chồi, bức tranh tuy rất giản dị, chân thực như một bức ký họa nhưng lại ẩn chứa rất nhiều điều kỳ quặc gây xáo trộn và tràn ngập những khổ đau trong một làng quê vốn đã xơ xác, nghèo nàn và khốn khổ.

Khi khép lại Chuyện Làng Ngày Ấy ở những trang cuối, nhà văn Võ Văn Trực đã có đôi lời tâm sự:

Tôi xin dâng bạn đọc cuốn sách nhỏ này bằng hai bàn tay chân tình của tôi. Xin bạn hãy xem mọi điều tôi viết trong đó như những lời tâm sự tha thiết: chúng ta cùng chung tay đẩy lùi và xóa sạch mọi sai lầm ấu trĩ, cùng vun trồng nền văn hóa Việt Nam hiện đại được bắt rễ sâu trong truyền thống bốn nghìn năm của dân tộc...”

May cho ông, cuốn sách đã được hoàn thành vào năm 1990 – đúng vào thời Tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ sĩ. Cùng hoàn cảnh sáng tác như ông, chỉ trong vòng hai năm, các nhà văn đã cho ra đời hàng loạt những tiểu thuyết nếu chưa có những đột biến về giá trị nghệ thuật thì ít nhất cũng phanh phui được một số sự thật vốn từng bị che đậy giấu giếm dưới khung cảnh toàn trị của một thể chế độc tài và nghiêm khắc.

Tuy nhiên, chẳng phải bây giờ mọi sự đã hoàn toàn thay đổi. Tác phẩm này của ông cho đến thời điểm này (2005) vẫn còn bị cấm lưu hành ở Việt Nam, mặc dù nguyện vọng của tác giả chỉ là muốn viết ra những điều giản dị và chân thực. Nhưng trong khi sáng tác, ông đâu có biết rằng tác phẩm của ông càng giản dị và chân thực bao nhiêu thì giá trị tố cáo của nó càng mạnh mẽ bấy nhiêu, chẳng khác gì một thùng thuốc nổ có thể làm vỡ tung mọi bưng bít, làm sụp đổ cả một sách lược ngụy tạo che giấu hay xí xóa về cả một thời kỳ lịch sử tuy đã qua nhưng hãy còn nóng hổi tính thời sự.

Chính vì vậy, chúng tôi xin mời độc giả hãy đọc và hãy tiếp tay lan truyền nó.

Chúng tôi nghĩ rằng hẳn đó cũng là tâm nguyện của tác giả khi ông sáng tác tác phẩm này.

California ngày 15-5-2005

Tạp Chí Văn Học

*

I

bác chắt kế đã về

- Bác Chắt Kế đã về!

- Bác Chắt Kế đã về!

Lũ trẻ chúng tôi đang chăn trâu dưới đồng Lao thì cái tin ấy truyền đến. Lời truyền chỉ thì thầm từ tai đứa này qua tai đứa khác, không thành tiếng, nhưng truyền đi rất nhanh. Chỉ chốc lát là tất cả chúng tôi sững sờ, bỏ mọi cuộc chơi. Ðứa đang chơi khăng, bỏ hòn cù lăn long lóc. Ðứa đang chơi “dọn cỗ thi”, bỏ vầy và cỏ gà, cỏ sữa trong lòng nón. Ðứa đang tắm cho nghé cũng bỏ mặc đấy. Tất cả đứng túm tụm lại, bàn tán với những vẻ mặt đầy quan trọng:

- Bác Chắt Kế về thật rồi à?

- Về thật! Nhật thua Tây thua thì bác Chắt Kế mới được về chứ?

- Sao hôm qua bang Trân vào nhà tao bắt nộp lúa tạ?

- Trốn về thì sao?

- Nếu bác Chắt Kế về thật thì ta sắp sung sướng rồi!
 
Một đứa nhỡ mồm suýt reo to bị thằng Bá giơ tay bịt chặt mồm lại:
- Chết! Chết! Mày lau chau nói ra, mất cái đội nón như chơi!
 
Bỗng ông tuần Chư từ xa đi tới, chúng tôi xì xào: “Ông tuần Chư là người của nó”, rồi lảng mỗi đứa một nơi. Thằng Bá làm ra vẻ đàn anh, nhảy phóc lên lưng trâu, hát nghêu ngao một bài đồng dao:
 
Nghé bông hay là nghé hoa
Như cà mới nở
Ơ nghé nghé ọ...
 
Cả lũ chúng tôi cùng giong trâu hát theo. Ðàn trâu nối nhau từ cánh đồng Lao thanh thả đi về cổng làng. Bụng đói meo mà sao tôi cảm thấy vui sướng đến thế, ngồi trên lưng trâu cứ ngỡ như mình bay theo ngọn gió nồm cùng với những đám mây nhuộm vàng ráng chiều...
 
Bác Chắt Kế về rồi! Thế là mình sắp được đi học, sắp được tập hát tập múa, sắp được ăn chung ở chung với bạn bè cùng lứa tuổi trong làng. Còn gì sung sướng hơn.
 
Sao làng mình có bác Chắt Kế mà làng khác lại không có. Thế làng mình đánh được Tây được Nhật thì làng khác cũng đánh được chứ? Bác Chắt Kế là người của thiên hạ chứ đâu có phải của riêng làng mình?.. Trong ý nghĩ trẻ thơ, tôi tưởng tượng bác Chắt Kế như vị thần của một ngôi miếu thâm u cổ thụ nào đó được thế giới thần linh phái ra để cứu dân khổ đau.
 
Tôi chưa hề một lần nào được thấy bác, được gặp bác. Tôi chỉ nghe lõm bõm về bác trong khi người lớn trò chuyện với nhau. Nhất là một buổi sáng, chao ơi cái buổi sáng ấy tôi nhớ mãi. Cụ Tú Vệ làng Kẻ Sụm xuống chơi với ông tôi. Hai cụ uống rượu và nói chuyện đến tận mặt trời đứng bóng. Gọi là uống rượu chứ thật ra đạm bạc lắm, rượu chỉ vừa một nậm với một con cá rô đặt trong đĩa sứ vẽ hình cây trúc. Hai cụ nâng chén bạch định lên môi nhấp rồi lại đặt xuống. Hai cụ cầm đũa gẩy gẩy con cá gắp từng tí một. Tôi có cảm giác hai cụ uống vờ và ăn vờ. Ðến khi cụ Tú Vệ cắp ô ra về, con cá mới hết một nửa và rượu cũng chỉ hết lưng nậm. Hai cụ đó thanh bạch quá chừng, hình như chỉ cốt dùng rượu làm cái cớ để giãi bày thế sự, chứ không cần sự hưởng thụ xô bồ vật chất... Sở dĩ hôm đó tôi được chứng kiến một cách kỹ càng “tiệc rượu” của cụ Tú Vệ với ông tôi là vì tôi vờ đứng bên cạnh hầu điếu đóm để nghe chuyện bác Chắt Kế. Tôi chắp nhặt từng mẩu vụn vặt, rồi đi kể cho bạn bè mục đồng nghe. Tôi thêm thắt, xâu chuỗi lại, tưởng tượng thêm và trong tâm trí tôi hình thành một bác Chắt Kế của chuvện cổ tích, của thần thoại.
 
Ở cánh đồng phía tây làng tôi có một cái giếng hình bàn chân khổng lồ, gọi là giếng Thần. Từ xửa từ xưa người ta truyền lại rằng có một vị thần gánh núi đi qua và bàn chân dẫm lõm xuống thành cái giếng. Bao nhiêu chuyện kể huyền ảo và kỳ vĩ về cái giếng này... Trong kho tàng chuyện kể ấy, có chuyện “thanh gươm cố Kế”. Cố Kế là cụ thân sinh bác Chắt Kế, một lần đi vận động phong trào Văn Thân từ Yên Thành về, qua giếng Thần, Thần hiện lên và trao cho thanh gươm, đêm ấy bà thân sinh có mang rồi đẻ ra bác Chắt Kế. Các cụ đồ trong làng bảo rằng bác Chắt Kế là người của thần linh sai phái xuống để cứu nhân độ thế. Từ mười lăm mười sáu tuổi, bác đã tham gia các hoạt động của “hội kín”. Năm 1927, bác đứng ra thành lập chi bộ Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội của làng tôi. Bác đi khắp bốn phương trời, vào Tây Cống, sang Xiêm La, tới Hương Cảng, sang Luangprabang, đến Nông Pênh... Rồi bác bị đi đày ở Lao Bảo, Ban Mê Thuột...
 
Lao Bảo là nơi đâu? Ban Mê Thuột là nơi đâu? Nghe nói đó là những chốn ma thiêng nước độc, chứa đầy những quỷ sứ có sừng, rắn đỏ mào, rết mắt xanh. Bác Chắt Kế bị ném vào địa ngục ấy và chịu đựng muôn nghìn cực hình. Bác bị xẻo thịt, bị dẫm chân lên lưỡi cày nướng đỏ, bị tuốt cật nứa, bị ném vào ổ rắn độc... Bác vẫn không chết bởi vì bác có phép thiêng của Thần ban cho.
 
Ôi những cái địa danh Lao Bảo, Ban Mê Thuột rùng rợn đến thế mà kích thích trí tưởng tượng, lòng khao khát của tuổi thơ biết bao. Khi nào mình được đặt chân tới đó để nhìn tận mắt cảnh địa ngục trần gian - nơi bác Chắt Kế, người của làng mình, đã từng chống chọi với diêm vương, quỷ sứ? Có phải bác là con đại bàng trong truyện cổ đã tung cánh làm đổ vỡ bao nhiêu thành lũy lao tù để trở về với làng xóm, với bà con thân thuộc...
 
Hôm nay bác đã về làng thật rồi ư? Chắc chắn lần này mình sẽ tìm kỳ được để nhìn thấy bác.
 
Một buổi sáng, tôi vừa giong trâu ra khỏi cổng thì gặp một người đàn ông lạ mặt bước vào. Người ấy trạc năm mươi tuổi, mặc bộ quần áo xanh bạc màu. Cha tôi vồn vã chạy ra tiếp. Tôi linh cảm: đây là bác Chắt Kế! Ðúng là bác Chắt Kế thật. Bác ấy vào nhà mình chơi, tôi cảm thấy như ai trao cho mình niềm vinh dự bất ngờ. Mấy người hàng xóm cũng chạy sang hỏi thăm ríu rít. Tôi cột trâu vào gốc cau, chạy vào buồng, chăm chú nhìn qua lỗ phên để thấy rõ bác Chắt Kế là người như thế nào: vầng trán rộng, mắt sáng, tóc chải ngược điểm hoa râm. Quả thật là gương mặt của một người thông minh khác thường.
 
Trong câu chuyện trao đi đổi lại giữa bác với bà con làng xóm, tôi không hề nghe ai nói đến việc đánh Nhật đuổi Tây. Tôi chỉ thấy gương mặt bác rạng rỡ, tươi cười, hỏi thăm chuyện mùa màng, đồng áng. Từ người trung niên đến cụ già đều trả lời bác với thái độ lễ phép, kính trọng.
 
Mọi người đang vui vẻ trò chuyện, bỗng ông mõ từ ngõ xồng xộc đi vào báo có bang Trân cùng mấy tên lính đã đến cổng làng. Thoắt một cái, bác Chắt Kế lẩn ra cửa sau, sang nhà bên cạnh, rồi đi biệt.
Tôi nhảy lên lưng trâu, hát nghêu ngao lững thững ra đồng.
 
Ngày hôm sau, hôm sau, rồi hôm sau nữa... không hề thấy bác Chắt Kế trong làng. Con đại bàng ấy lại bay tới phương nào?...