II. Phái thanh niên 

Phái này gồm tất cả các nhà văn trẻ tuổi, lớn lên trong khói lửa của cuộc kháng chiến dân tộc và đã được rèn luyện đầy đủ trong hệ thống tư tưởng Mác-xít. Tất cả đều là đảng viên và đa số đã tích cực tham gia bộ đội. Trẻ nhất trong bọn là Phùng Quán (năm nay mới 25 tuổi) và nhiều tuổi nhất là Hoàng Tích Linh (năm nay chừng 45 tuổi). 

Điều đáng chú ý nhất là hiện nay không có một nhà văn thanh niên nào theo Đảng, mặc dù Đảng đã đào tạo nên họ. 

Họ chống lại học thuyết Mác-xít và chế độ cộng sản không phải vì quyền lợi giai cấp hoặc vì họ đã bị tiêm nhiễm những triết lý phong kiến hoặc tư sản, mà chính vì bản chất trong con người thiên nhiên của họ phải có phản ứng tự vệ để khỏi bị tiêu diệt. Tiếng nói của họ là tiếng nói của con người "nhân chi sơ", không đại diện cho một học phái nào cả, tiếng nói của những linh hồn còn trong trắng. 

Trần Dần, một nhà thơ đã tham dự trận Điện Biên Phủ có thể coi là điển hình cho thế hệ này. 


Trần Dần 

Tiểu sử: Trần Dần sinh năm 1924 [1] ở Nam Định, học tiểu học ở tỉnh Nam rồi sau lên học trung học ở Hà Nội. Khi ông học văn chương Pháp để thi tú tài, ông bị ảnh hưởng Baudelaire và Verlaine, trở thành một thi sĩ làm thơ tiếng Việt theo lối "tượng trưng" (symbolisme) của Pháp. Cho tới ngày nay ông vẫn giữ lối thơ đó vì ông chủ trương rằng mình lời văn không đủ mà phải dùng cả âm điệu trong câu mới diễn tả được những rung động trong tâm hồn của thi nhân. 

Ông mới xuất hiện là một nhà thơ thì cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Trở về Nam Định, ông tham gia kháng chiến và đảm nhận công tác tuyên truyền. Sau khi Nam Định thất thủ, ông xung phong gia nhập bộ đội và được cử lên mặt trận Sơn La. Ở đây, ông phụ trách điều khiển đoàn văn công, được các văn nghệ sĩ trong trung đoàn rất quý mến và được kết nạp làm đảng viên. Nhưng là một văn nghệ sĩ, ông không chịu nổi sự chèn ép của các cán bộ chính trị cấp trung đoàn, nên đến năm 1951, ông xin về Trung ương, nhận công tác viết báo cho Cục Quân huấn. 

Trong thời kỳ này, ngoài việc viết báo, ông còn phụ trách giảng về văn nghệ nhân dân và chính sách lãnh đạo văn nghệ của Đảng đối với văn nghệ sĩ trong những lớp đào tạo cán bộ văn công. Bị phê bình là giảng sai đường lối của Đảng, ông tức mình xin đi công tác tiền tuyến và được cử lên mặt trận Điện Biên Phủ. Xúc cảm trước sự tấn công ào ạt của quân đội kháng chiến vào thành luỹ của Pháp, nhất là trước cái chết thê thảm của Tô Ngọc Vân, bạn đồng hành của ông, Trần Dần sáng tác cuốnNgười người lớp lớp. Nhờ cuốn sách này ông được Đảng yêu chuộng trở lại và năm 1954 được cử đi Trung Quốc để viết bản dẫn giải bằng tiếng Việt cho cuốn phimChiến thắng Điện Biên Phủ, là cuốn phim Việt Minh đóng lại trận Điện Biên Phủ do cán bộ Trung cộng sang quay và mang sang Tàu thu thanh. 

Nhân chuyến du hành này, Trần Dần được tiếp xúc với nền văn hoá của Trung cộng. Ông lấy làm thất vọng nên khi trở về, ông nói nhỏ với bạn bè: "Chớ nên theo đường lối văn nghệ của Trung Quốc". 

Cùng đi với ông sang Trung Quốc có một cán bộ chính trị phụ trách về đường lối giải thích, nhưng tên cán bộ này mặc dầu dốt đặc về văn chương cũng cứ nhất định dùng quyền lực chính trị của mình để sửa chữa từng câu, từng chữ của Trần Dần, mà có khi ngang nhiên đọc lời giải thích của mình cho Trần Dần viết. Ông lấy làm bất mãn, nên khi về đến Việt Nam, ông cùng một số văn nghệ sĩ đảng viên khác như Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh và Đỗ Nhuận, cùng trong cảnh ngộ, viết kiến nghị lên cấp trên yêu cầu hạn chế sự can thiệp của cán bộ chính trị vào lãnh vực văn nghệ. 

Kiến nghị còn đang được cứu xét thì xẩy ra một việc quan trọng hơn. Đó là việc Trần Dần tự tiện lấy vợ, bất chấp sự cấm đoán của Đảng. Theo một đạo luật bất thành văn mà Đảng đã đặt ra, các đảng viên cấp xã phải báo cáo cho cấp trên biết trước mỗi khi dự định lấy vợ, lấy chồng; các đảng viên huyện (trường hợp của Trần Dần) phải xin phép Đảng mới được cưới xin hoặc yêu đương, còn về phần các đảng viên cấp tỉnh trở lên thì việc dựng vợ gả chồng là đo Đảng quyết định. 

Trần Dần tuy là đảng viên, nhưng vẫn giữ tính chất văn nghệ sĩ, không chịu nổi luyến ái quan Mác-xít. Hồi ở chiến khu bao nhiêu lần Đảng "xây dựng" cho ông với các nữ đồng chí, ông dều không chịu và khi hoà bình trở lại, ông tình cờ gặp và mê ngay một thiếu nữ tiểu tư sản ở phố Sinh Từ, sống bơ vơ một mình, vì bố mẹ họ hàng di cư vào Nam không kịp mang theo. 

Trần Dần xin phép Đảng để cưới người yêu, nhưng Đảng nhất định không cho vì một lý do căn bản: người con gái đó theo đạo Thiên chúa. Tuy vậy, Đảng không nêu lên lý do tôn giáo để từ chối mà chỉ giải thích rằng người con gái đó sống về tiền thuê nhà mà bố mẹ để lại nên thuộc vào thành phần bóc lột, và một đảng viên không thể lấy vợ thuộc giai cấp "địch". 

Trần Dần không chịu cắt đứt tình yêu nên khuyên ý trung nhân mang nhà cửa bố mẹ để lại giao cho Uỷ ban quản trị tài sản của những người vắng mặt trông coi và thu hoa lợi; hai người đều cam chịu sống trong cơ cực để yêu thương nhau. Đảng bèn rẽ duyên bằng cách điều động Trần Dần lên Việt Bắc công tác, nhưng Trần Dần lấy cớ ốm đau xin về Hà Nội nghỉ dài hạn và tự ý xin ra khỏi Đảng, ngang nhiên đến phố Sinh Từ sống với tình nhân không cần cưới xin. Đảng toan trừng trị, nhưng ngặt vì lúc đó đang có phong trào di cư, nên không dám khủng bố bất cứ ai sợ làm náo động nhân tâm khiến cuộc di cư bành trướng thêm. Đảng bèn nuốt giận làm lành, chỉ gây dư luận là Trần Dần đã sa đoạ, rơi vào hố tư sản phản động. 

Nhưng sau khi đóng cửa Hải Phòng, Trần Dần lại làm một việc táo bạo thứ hai là phê bình đả kích cuốn thơ Việt Bắc của Tố Hữu, một thi sĩ giữ chức trung ương uỷ viên, phụ trách lãnh đạo văn nghệ. Tố Hữu liền ra lệnh bắt cóc Trần Dần mang nhốt trên một nhà giam ở Việt Bắc. Vợ Trần Dần lại sống bơ vơ giữa Hà Nội một lần nữa, hỏi thăm chồng ở đâu, không ai biết, vẫn thất nghiệp, lại thêm bụng mang dạ chửa. Bạn bè của Trần Dần phải chung tiền giúp đỡ và thay phiên đến thăm hỏi nâng đỡ tinh thần. 

Tin Trần Dần bị bắt mang đi biệt tích lan ra khắp Hà Nội và gây dư luận sôi nổi trong giới trí thức kháng chiến. Để dẹp yên dư luận, Đảng bèn sửa sai bằng cách đưa Trần Dần về mạn xuôi, bắt đi theo chiến dịch Cải cách ruộng đất. Đảng cũng gọi vợ Trần Dần đến cho công việc may vá cho mậu dịch. 

Không được bao lâu, xẩy ra vụ Khrushchev hạ bệ Stalin. Nhóm văn nghệ sĩ kháng chiến nổi lên đấu tranh chống Đảng bằng cách xuất bản tập Giai phẩm 1956 (sau này gọi là Giai phẩm mùa Xuân). Lúc này Trần Dần không có mặt ở Hà Nội, nhưng Hoàng Cầm là bạn thân, biết Trần Dần hồi 1954 có viết bài "Nhất định thắng" có giá trị, nên đến nhà bảo vợ Trần Dần đưa bản thảo và mang in trong tập Giai phẩm

Tờ tạp chí vừa in xong thì bị tịch thu ngay. Đảng ngờ rằng Trần Dần đã bị nằm tù mà còn dám viết bài chống Đảng nên gọi Trần Dần về, mang ra đấu giữa một cuộc hội nghị của đông đủ các văn nghệ sĩ, quy Trần Dần vào tội phản động, lấy cớ là trong các bài thơ ông có dùng chữ "Người" viết hoa nên gán cho ông có ý đả kích cụ Hồ và ra lệnh tống giam vào nhà pha Hoả Lò ở Hà Nội. Trần Dần uất ức quá dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết, sau này vẫn mang cái sẹo ở cổ. 

Năm tháng sau, Việt cộng tuân theo chỉ thị của Đệ tam Quốc tế phát động phong trào sửa sai. Giới trí thức được dịp phát động phong trào đấu tranh chống Đảng. Họ xuất bản tờ Giai phẩm muà Thu và tờ Nhân văn, lên tiếng phản đối vụ tịch thu tờ báo Giai phẩm mùa Xuân và việc khủng bố Trần Dần. Cụ Phan Khôi có nêu hai vấn đề này trong bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trong Giai phẩm mùa Thu và Hoàng Cầm viết một bài nhan đề "Con người Trần Dần" đăng trong tờ Nhân văn số đầu. Bị công kích không có thế đỡ, Đảng bèn thả Trần Dần về và phục hồi danh dự bằng cách ra lệnh cho Hội Văn nghệ viết bản tự kiểm thảo đăng trên các báo. Nhóm Giai phẩm bèn tái bản tờ Giai phẩm mùa Xuân trong đó có bài thơ "Nhất định thắng" của Trần Dần. 

Nhưng sau khi Nga-sô đàn áp cuộc khởi nghĩa Budapest thì Việt cộng cũng đóng cửa tờ Nhân văn và Giai phẩm. Một lần nữa, Trần Dần lại bị quy là phản động và bị "treo giò" không được viết văn. Nhưng đến tháng cuối năm 1957, nhân báo Văn trở lại chống Đảng, Trần Dần gửi đăng một bài thơ nhan đề là "Hãy đi mãi" nói lên ý chí cương quyết đấu tranh đòi tự do đến cùng. 

Về thơ, ông còn sáng tác những bài: 

"Nói thật", trong đó ông lý luận rằng chỉ vì cán bộ hèn nhát không dám nói thật với Đảng nên mới xảy ra vụ "sai lầm" trong Cải cách ruộng đất. 

"Nhân văn làm lớn con người", trong đó ông đề cao nhân văn. 

"Một bài thơ chưa có đề", trong đó ông ám chỉ Tố Hữu là nhà thơ "ti tỉ đờn bầu”. 

Về truyện, ông viết: 

"Chú bé làm văn" để chỉ trích nền giáo dục cộng sản chuyên môn tập cho trẻ em nói dối từ thuở bé để sau này nói dối thuê cho Đảng. 

"Mâu thuẫn với cả nước" tả một nhạc sĩ bất tài (ám chỉ Lương Ngọc Trác) dùng thế lực Đảng, quy cho một nhạc sĩ có tài hơn mình vào tội "mâu thuẫn với cả nước". 

"Lão Rồng" tả một nông dân hiền lành bị bọn "lý trưởng mới" chà đạp. 

Nhưng đặc biệt hơn cả là truyện “Anh Cò Lắm”, tả sự khổ cực của nông dân trong cải cách ruộng đất. Trong truyện đó có đoạn như sau: 


"Tôi đi thẳng vào nhà Cò Lắm. Vắng cả, nhà chả có ai, nhưng có tiếng trẻ khóc. Ba gian nhà nhỏ vẫn một cái giường, một cái chõng, có thêm một lá cờ đỏ rắt mái nhà rủ trước mặt bức ảnh Hồ Chủ tịch. Một đứa bé con độ lên hai bò giữa nhà, giời rét mà độc một manh áo nâu, còn cởi chuồng, chân tay lắm mụn, bôi phẩm xanh lè cả người. Thấy tôi nó càng khóc, giơ tay quẹt má. Tôi nhìn: Tay nó có cái gì vàng vàng? À ra cứt, nó ỉa một đống còn kia, cổ chân nó lại buộc một cái dây bằng vải khá dài, một đầu dây buộc vào cột nhà, chắc hẳn mẹ nó buộc nó vào dây cho nó chơi một mình.” 


Trừ có hai bài thơ “Nhất định thắng” và “Hãy đi mãi” ông ký tên thật, còn tất cả những bài khác đều ký bằng bí danh, sau này bị tra khảo trong tù ông mới nhận là chính ông viết. 

Sau đây chúng tôi chỉ trích hai bài: “Nhất định thắng” và “Hãy đi mãi” vừa điển hình cho lối thơ của ông, vừa nói lên tâm sự của thế hệ mới ở Bắc Việt. [2] 

Nhất định thắng 


Lời soạn giả: Bài thơ này đã gây nên cuộc đấu tố tác giả, khiến tác giả phải cứa cổ tự tử. Vì vậy nên tuy dài, chúng tôi cũng đăng trọn bài. Đại ý của tác giả là nêu sự đói rét của đất Bắc và nỗi u buồn trong lòng người phương Bắc hiện nay


Tôi ở phố Sinh Từ: 
Hai người 
Một gian nhà chật. 
Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui? 
Tổ quốc hôm nay 
tuy gọi sống hoà bình 
Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất 
Chúng ta còn muôn việc rối tinh... 
Chúng ta 
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc 
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men 
Khi mảng vui - khi chợt nhớ - chợt quên 
Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt 
Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt. 
Ta biết đâu bên Mỹ Miếc tít mù 
Chúng còn đương bày kế hại đời ta? 
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc 
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn 
Bỗng nhói ngang lưng 
máu rỏ xuống bùn 
Lưng tôi có tên nào chém trộm? 
A! Cái lưỡi dao cùn! 
Không đứt được - mà đau! 
Chúng định chém tôi làm hai mảnh 
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh 
Hãy nhìn xem: có phải vết dao? 
Không đứt được mà đau! 
Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu 
Tôi đã sống rã rời cân não 
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam 
Những con mưa rơi mãi tối sầm 
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng 
Tôi đã trở nên người ôm giận 
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi. 
- Dừng lại! 
- Đi đâu? 
- Làm gì? 
Họ kêu những thiếu tiền thiếu gạo 
Thiếu Cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân 
Có cả anh Nam chị Nữ kêu buồn 
- Ở đây 
Khát gió thèm mây... 
Ô hay! 
Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ 
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi? 
Sau đám mây kia là cả miền Nam 
Sao nỡ tưởng là non bồng của Mỹ! 
Tôi muốn khóc giữ từng em bé 
Bỏ tôi ư? - Từng vạt áo - Gót chân 
Tôi muốn kêu lên - những tiếng cộc cằn... 
- Không! Hãy ở lại! 
Mảnh đất ta hôm nay dù tối 
Cũng còn hơn 
non bồng Mỹ 
triệu lần... 
Mảnh đất dễ mà quên? 
Hỡi bạn đi Nam 
Thiếu gì ư? Sao chẳng nói thực thà? 
Chỉ là: 
- thiếu quả tim, bộ óc! 
Những lời nói sắp thành nói cục 
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi 
Tôi nức nở giữa trời mưa bão. 
Họ vẫn ra đi. 
Nhưng sao bước rã rời? 
Sao họ khóc? 
Họ có gì thất vọng? 
Đất níu chân đi 
gió cản áo bay về 
Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống. 
Tưởng như đây là phút cuối cùng 
Giăng giối lại: - mỗi lùm cây - hốc đá 
Mỗi căn vườn - gốc vả - cây sung 
Không nói được chỉ còn nức nở 
Trắng con ngươi nhìn lại đất trời 
Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa 
Nhìn con đuờng cũ, nhìn ngôi sao mờ 
Ôi đất ấy - quên làm sao được? 
Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi 
Hôm nay đây mưa gió dập vùi 
- Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc... 
Ai dẫn họ đi? 
Ai? 
Dẫn đi đâu? - mà họ khóc mãi thôi! 
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió 
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi 
Tôi cúi xuống - quỳ xin mưa bão 
Chớ đổ thêm lên đầu họ 
- khổ nhiều rồi! 
Họ xấu số - chớ hành thêm họ nữa 
Vườn ruộng hoang sơ - Cửa nhà vắng chủ 
Miền Nam muôn dặm, non nước buồn thiu 
Họ đã đi nhưng trút lại tâm hồn 
Ôi đất Bắc! Hãy giữ gìn cho họ. 
Tôi ở phố Sinh Từ 
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót 
Tôi bước đi 
không thấy phố 
không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa 
trên mầu cờ đỏ 
Gặp em trong mưa 
Em đi tìm việc 
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về 
- Anh ạ! 
họ vẫn bảo chờ... 
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư? 
Trời mưa, trời mưa 
Ba tháng rồi 
Em đợi 
Sống bằng tương lai 
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi 
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã 
Em đi 
trong mưa 
cúi đầu 
nghiêng vai 
Người con gái mới mười chín tuổi 
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi 
Bóng chúng 
đè lên 
số phận 
từng người 
Em cúi đầu đi, mưa rơi 
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót 
Tôi bước đi 
không thấy phố 
không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa 
trên mầu cờ đỏ 
Đất nước khó khăn này 
sao không thấm được vào Thơ? 
Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi 
Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua 
Nhưng mà sách - hình như khá chạy 
À quyển kia của bạn này - bạn ấy 
Quyển của tôi tư lự, nét đăm đăm 
Nó đang mơ: - nếu thêm cả miền Nam 
Số độc giả sẽ tăng dăm bảy triệu 
Tôi đã biến thành người định kiến 
Tôi ước ao tất cả mọi người ta 
Đòi thống nhất, phải đòi từ việc nhỏ 
- từ cái ăn 
cái ngủ 
chuyện riêng tư 
- từ suy nghĩ 
nựng con 
và tán vợ. 
Trời mưa mãi lây dây đường phố 
Về Bắc Nam tôi chưa viết chút nào 
Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió 
Nhưng hôm nay 
tôi bỗng cúi đầu 
Thơ nó đi đâu? 
Sao những vần thơ 
Chúng không chuyển, không xoay trời đất? 
Sao chúng không chắp được cõi bờ? 
Non nước sụt sùi mưa 
Tôi muốn bỏ thơ 
làm việc khác 
Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa 
Chút tài mọn 
tôi làm thơ chính trị 
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót 
Tôi bước đi 
không thấy phố 
không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa 
trên mầu cờ đỏ 
Em ơi ! - ta ở phố Sinh Từ 
Em đương có chuyện gì vui hử 
À cái tin trên báo - Ừ em ạ 
Chúng đang phải giậm chân đấm ngực! 
Vượt qua đầu chúng nó 
mọi thứ hàng 
Những tấn gạo vẫn vượt đi 
Những tấn thơ, tài liệu 
Vẫn xéo qua đầu chúng, giới danh gì? 
Ý muốn dân ta 
là lực sĩ khổng lồ 
Đè cổ chúng mà xoá nhoà giới tuyến 
Dân ta muốn trời kia cũng chuyển 
Nhưng Trời mưa to lụt cả gian nhà 
Ôm tất cả che mưa cản gió 
Con chó mực nghe mưa là rú 
Tiếng nó lâu nay như khản em à 
Thương nó nhỉ - nó gầy - lông xấu quá 
Nó thiếu ăn - Hay là giết đi ư? 
Nó đỡ khổ - Cả em đỡ khổ. 
Em thương nó - Ừ thôi chuyện đó 
Nhưng hôm nay anh mới nghĩ ra 
Anh đã biến thành người định kiến 
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót 
Tôi bước đi 
không thấy phố 
không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa 
trên mầu cờ đỏ 
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc 
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm 
Tiếng người nói xen tiếng người ầm ả. 
- Chúng phá hiệp thương 
Liệu có hiệp thương? 
- Liệu có tuyển cử? 
- Liệu tổng hay chẳng tổng? 
- Liệu đúng kỳ? hay chậm vài năm? 
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng 
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người 
Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai 
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy. 
Người vẫn vội - Người chưa kiên nhẫn mấy 
Gan người ta chưa phải đúng công nông 
Người chửa có dạ lim trí sắt 
Người mở to đôi mắt mà trông! 
A tiếng kèn vang 
quân đội anh hùng 
Biển súng 
rừng lê 
bạt ngàn con mắt 
Quân ta đi tập trận về qua 
Bóng cờ bay đỏ phố đỏ nhà... 
Lá cờ ấy là cờ bách thắng 
Đoàn quân kia muôn trận chẳng sờn gan 
Bao tháng năm đói rét nhọc nhằn 
Từ đất dấy lên 
là quân vô sản 
Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành 
Thắng được Chiến tranh 
Giữ được Hoà bình 
Giặc cũ chết - lại lo giặc mới 
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi 
Chưa bao giờ làm mất bụng dân yêu 
Dân ta ơi! Chiêm nghiệm đã nhiều 
Ai có Lý? Và ai có Lực? 
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy 
Biết nhân dân 
Biết Tổ quốc Việt Nam này 
Những con người từ ức triệu năm nay 
Không biết nhục 
Không biết thua 
Không biết sợ 
Hôm nay cả nước chỉ có một lời hô: 
THỐNG NHẤT! 
Chúng ta tin khẩu hiệu ta đòi 
- Giả miền Nam 
Tôi ngửa mặt lên trời 
Kêu một tiếng - bỗng mầu trời rơi xuống 
Vài ba tia máu đỏ rớt vào tôi 
Dân ta ơi! 
Những tiếng ta hò 
Có sức đâm trời chảy máu 
Không địch nào cưỡng nổi ý ta 
Hiền hậu lắm - Nhưng mà đi cả quyết... 
Hôm nay 
Những vần thơ tôi viết 
Đã giống lưỡi lê: đâm 
Giống viên đạn: xé 
Giống bão mưa: gào 
Giống tình yêu: thắm 
Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây 
Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu 
Tôi là người vô địch của lòng tin. 
Sao bỗng đêm nay 
tôi cúi mặt trước đèn? 
Gian nhà vắng - chuột đêm nó rúc. 
Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra. 
Hừ! Chúng nó đã biến thành tảng đá 
chặn đường ta! 
Em ơi thế ra 
Người tin tưởng nhất như anh 
vẫn có phút giây ngờ vực 
Ai có lý? Và ai có lực? 
Ai người tin? Ai kẻ ngã lòng tin? 
Em ơi 
Cuộc đấu tranh đây 
cả nước 
cả hoàn cầu 
Cả mỗi người đêm ngủ vẫn lo âu 
Có lẫn máu, có xót thương lao lực 
Anh gạch xoá tranh thơ hằn nét mực 
Bỗng mặt anh nhìn thấy! Lạ lùng thay! 
Tảng đá chặn đường này! 
Muôn triệu con ngườI 
muôn triệu bàn tay 
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực! 
Anh đã nghĩ: Không có con đường nào khác 
Đem ngã lòng ra 
mà thống nhất Bắc Nam ư? 
Không không! 
Đem sức gân ra! 
Em ơi em! 
Cái này đỏ lắm, gọi là TIM 
Anh cho cuộc đấu tranh giành THỐNG NHẤT. 

(Bài thơ này lúc đầu lấy nhan đề là "Bài thơ thống nhất" và chỉ có đến đây là hết. Hoàng Cầm khuyên Trần Dần nên làm thêm một đoạn nữa để "giữ vững lập trường" mới có thể xuất bản được. Vì vậy nên mới có đoạn văn sau này và bài thơ cũng đổi nhan đề là "Nhất định thắng".

Hôm nay Trời đã thôi mưa thôi gió 
Nắng lên đỏ phố đỏ nhà 
Đỏ mọi buồng tim lá phổi 
Em ơi đếm thử bao nhiêu ngày mưa! 
Bây giờ 
Em khuân đồ đạc ra phơi 
Em nhớ đừng quên 
Em khuân tất cả tim gan chúng mình phơi nắng hết 
Em nhìn cao tít trời xanh 
Dưới phố bao nhiêu cờ đỏ! 
Hôm nay em đã có việc làm 
Lương ít - Sống còn khó khăn 
Cũng là may... 
Chính phủ muôn lo nghìn lắng 
Thực có tài đuổi bão xua mưa, không thì còn khổ 
Em treo cờ đỏ đầu nhà 
Lá cờ trừ ma 
Xua được bóng đen chúng nó! 
Những vết thương kháng chiến đỏ lòm 
Đã mím miệng, lên da lên thịt 
Tôi bỗng nhói ở nơi lồng ngực 
Em ơi 
Chúng đốt phố Ga-li-ê-ni 
và nhiều phố khác 
Anh đã sống ở Sài Gòn thuở trước 
Cảnh miền Nam thành một góc tim anh 
Chúng đốt tận đâu 
mà lửa xém tim mình 
Tim nó bị đen thui một nửa 
Từ dạo ấy 
mà em chẳng rõ. 
- Em hãy đỡ cho anh khỏi ngã 
Đứng đây 
Một lúc! 
Cờ bay 
đỏ phố 
đỏ nhà 
Màu cờ kia là thang thuốc chữa cho anh 
Ai thắng ai thua? 
Ai có lý? Và ai có lực? 
Em ơi 
Hôm nay 
trời xanh 
xanh đục 
Nắng lên 
đỏ phố 
đỏ cờ 
Cuồn cuộn mít tinh 
Những ngày thương xót đã lùi xa 
Hoà bình 
thêm vững 
Anh bước đi 
đã thấy phố 
thấy nhà 
Không thấy mưa sa 
Chỉ thấy nắng lên 
trên màu cờ đỏ. 
Ta ở phố Sinh Từ 
Em này 
Hôm nay 
đóng cửa 
Cả nhà ra phố 
mít tinh 
Vung cờ đỏ 
hát hò 
vỡ phổi. 
Hỡi những người 
thành phố 
thôn quê 
Đói no lành rách 
Người đang vui 
Người sống đang buồn 
Tất cả! 
Ra đường ! 
Đi! 
Hàng đoàn 
hàng đoàn 
Đòi lấy tương lai: 
HOÀ BÌNH 
THỐNG NHẤT 
ĐỘC LẬP 
DÂN CHỦ 
Đó là tim 
là máu đời mình 
Là cơm áo! Là ái tình 
Nhất định thắng! 

(Trích Giai phẩm mùa Xuân 1956) [3] 


 

*



Hãy đi mãi 


Lời soạn giả: Ngụ ý của tác giả trong bài này là kêu gọi những người yêu chuộng tự do hãy tranh đấu đến cùng, bất chấp mọi sự đe dọa. 


Khi trái đất còn đeo bom 
trước ngực 
thắt lưng 
còn lựu đạn, bao xe; 
Khi bạo lực còn khua 
môi mõm mốc xì, 
khẩu đại bác mỏi đừ 
vẫn sủa; 
Khi bóng tối 
còn đau như máy chém 
những lời ca đứt cổ 
bị bêu đầu 
Lũ đao phủ tập trung 
hình cụ 
mặt trời lên 
phải mọc giữa rừng gươm; 
Khi thế kỷ còn rung 
chuông lừa bịp 
Những canh gà 
báo trượt rạng đông. 
Con rắn lưỡi cắn người như cắn ngoé; 
Khi xe tăng 
chửa đi cấy đi cày, 
như 
một lũ tội nhân cần cải tạo; 
Khi 
con thò lò ngày đêm hai mặt đói meo, 
còn quay tít 
trên kiếp người hạ giá; 
Những khi ấy 
sẵn sàng 
nổi giận, 
loài người 
còn tổ chức nhau đi. 
Hãy đi mãi như người 
cộng sản 
có thể mỏi mọi điều 
không mỏi: tấn công! 
Phải làm lại chúng ta, tất cả - 
không tha, 
để đừng có một ai lần lữa, 
khi nào 
chân lý gọi tên đi. 
Hãy đi mãi! – 
dù mưa băm nát mặt 
Sương rơi, hơn đạn xưa 
đau đầu. 
Dù bốn mùa 
nhưng nhức nắng mưa 
mùa bão tuyết thế chân 
mùa gió độc. 
Hãy đi mãi! – 
dù mưa đông phục kích 
hay 
lửa hè đánh trộm sau lưng 
Dù những đêm 
buồn như sa mạc hoang vu 
Đoàn du mục tủi thân 
vùi bãi cát. 
Dù 
những ngày, mũi kiếm heo may 
đi hành hạ 
những tâm tư trằn trọc 
Hãy đi mãi! – 
Dù trên biển cả 
sóng như người vật vã 
khắp đại dương. 
Dù những con tầu 
bỗng nhớ bến bình yên. 
còi rúc mãi những tiếng kêu rùng rợn 
Hãy đi mãi! – 
Dù khi cần thiết 
người ta cần đói khát 
vượt bình sa. 
Ta bỗng có thể nhịn lâu 
hơn cả lạc đà 
đi 
đến tận những kinh thành no ấm. 
Hãy đi mãi! – 
Dù có phen chót ngã 
Hãy bó đôi chân lầm lỡ 
mà đi. 
Hãy tin chắc 
rồi ta 
xứng đáng 
một vòng hoa đỏ nhất 
phủ quan tài 
Tôi chửa có khi nào quên táo bạo 
chửa khi nào quên hát 
quên đau. 
Tôi yêu đất mẹ đây – 
có cỏ hoa làm chứng 
Tôi yêu chủ nghĩa này 
cờ đỏ cãi cho tôii. 
Nhưng 
chẳng thể rúc kèn củ rích, 
vác loa mồm kêu: 
"Hiện tại rất thiên đường!" 
Không! 
Thiên đường chúng ta 
là nối đuôi nhau 
vô tận triệu Thiên đường. 
Đi mãi 
chẳng bao giờ thoả. 
Tôi có thể mắc nhiều 
tội lỗi, 
chẳng bao giờ quá ngu đi 
mắc tội: nằm ì 
Han rỉ 
khác gì cái chết? 
Chết con tim chẳng còn dám 
đau thương. 
Chết khối óc 
chẳng còn dám nghĩ! 
Nếu 
tôi chửa đến ngày thổ huyết 
phổi tôi còn xâu xé mãi 
lời thơ. 
Tôi có thể mặc thây 
ngàn tiếng chửi tục tằn 
trừ tiếng chửi: - 
"Sống không sáng tạo!" 
Nếu tôi bị gió sương 
đầu độc, 
một hôm nào ngã xuống 
giữa đường đi 
tôi sẽ ngã 
như người lính trận 
hai bàn tay chết cứng 
vẫn ôm cờ. 
Nếu vầng nhật 
thui tôi làm bụi, 
nắng oan khiên đốt lại 
làm tro. 
Bụi tôi sẽ 
cùng tro – 
vẫn sống 
vẫn chia nhau gió bấc 
xẻ mưa phùn. 
Nếu dĩ vãng đè trên lưng 
hiện tại 
nặng nề 
hàng tạ đắng cay, 
tôi sẽ nổ tung 
ngàn kho đạn tiếng kêu 
tan xác pháo 
mọi cái gì cũ rích, 
Nếu 
hàm răng chuột nhắt của gia đình 
gậm nhấm 
cả tình yêu cùng dự định 
tôi sẽ biến thân tôi thành 
thép nguội 
làm thất bại 
mọi thứ rũa đã quen rũa người 
tròn trặn quá hòn bi. 
Ở trong tôi 
nếu còn sức mạnh gì 
chính là sức những ai 
nghèo khổ nhất. 
những ai 
lao lực nhất – 
địa cầu ta. 
Tôi vẫn nâng chiếc đầu lâu 
nặng nề sáng tạo 
như 
nâng một viễn vọng đài 
trên cuộc sống hàng ngày 
nhí nhách 
Tôi vẫn cháy 
ngọn hải đăng con mắt 
ở trong biển sống 
từng đêm. 
Tôi vẫn đóng những câu thơ 
như người thợ 
đóng tàu, 
chở khách 
đi về phía trước, 
nói 
loài người – 
đã biết sống chung nhau. 
Nói 
tất cả - 
chẳng còn ai bần tiện, 
chẳng còn lo 
cơm áo 
nợ nần 

(Trích báo Văn số 28, xuất bản ngày 15-11-1957) 


 

*



Phùng Quán 

Phùng Quán, năm nay 25 tuổi, là một thanh niên nghèo. Trước đi bộ đội, sau được giới thiệu về trường Dự bị Đại học để học thêm. Về Hà Nội anh lại tiếp tục công tác văn nghệ trong quân đội. 

Anh viết văn theo lối hiện thực xã hội và được coi là Triệu Tử Long trong nhóm đối lập. Những bài thơ của anh được dư luận gọi là những "bom nguyên tử". 

Chúng tôi trích đăng bài "Chống tham ô lãng phi" đăng trong Giai phẩm mùa Thu, tháng 10-1956 và bài "Lời mẹ dặn" đăng trong tờ Văn, tháng 9-1957. 

Anh không đòi hỏi gì khác hơn là quét sạch những rác rưởi trong xã hội và yêu cầu các nhà văn phải trung thành với tâm hồn của mình: "Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét". [4] Anh bị khủng bố chỉ vì dám nói như vậy. Phùng Quán bị lôi đi chỉnh huấn và phải viết bài thú tội. Trong bản này nhà thơ trẻ tuổi thú nhận rằng sau khi nhóm Nhân văn-Giai phẩm bị giải tán thì suốt ngày chỉ chơi với một con bú dù. Các bạn hỏi tại sao thích nuôi bú dù, Phùng Quán trả lời: "Chơi với người chán lắm rồi, thành phải chơi với bú dù". 

Một chế độ đã đào luyện cho thanh niên một tâm trạng như vậy đủ làm cho chúng ta suy nghĩ về chân giá trị của chế độ đó vậy. 

Thơ cái chổi - Chống tham ô lãng phí 

Ta đã đi qua 
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt: 

Tôi đã gặp 
Những bà mẹ già quấn giẻ rách 
Da đen như củi cháy giữa rừng 
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng 
Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa. 

Tôi đã gặp 
Những cô gái trồng bông 
Hai mươi? Ba mươi? 
Tôi không nhìn ra nữa. 
Mồ hôi sôi trên lưng 
Mặt trời như mỏ hàn xì lửa 
Đốt đôi vai cháy hồng. 

Tôi đã đi qua 
Nhiều xóm làng vùng Kiến An Hồng Quảng. 
Nước biển dâng lên ướp muối các cánh đồng 
Hai mùa lúa không có một bông. 
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ. 

Tôi đã gặp 
Những đứa em còm cõi 
Lên năm lên sáu tuổi đầu. 
Cơm thòm thèm độn cám với rau 
Mới tháng ba đã ngong mong đến Tết 
Để được ăn cơm no có thịt 
Một bữa một ngày… 

Tôi đã đi 
Giữa Hà Nội những đêm mưa lất phất 
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm 

Tôi đã gặp 
Chị em công nhân đổ thùng 
Yếm rách chân trần 
Quần xắn quá gối 
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối 
Vác những thùng phân 
Ta thuê một vạn một thùng 
Có người không dám vác 
Các chị suốt đêm quần quật 
Sáng ngày vừa đủ nuôi con. 

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn 
Của quần chúng anh hùng lao động 
Đang buộc bụng thắt lưng để sống 
Để xây dựng kiến thiết nước nhà 
Để yêu thương nuôi nấng chúng ta. 

Vì lẽ đó 
Tôi quyết tâm rời bỏ 
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa 
Những vần thơ xanh đỏ sáng loà 
Như trang giấy kim 
Dán lên quân trang 
Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng 
Như công nhân 
Tôi muốn đúc thơ thành đạn 
Bắn vào tim những kẻ làm càn 
Những con người tiêu máu của dân 
Như tiêu giấy bạc giả! 
Các đồng chí ơi! 
Tôi không nói quá 
Về Nam Định mà xem. 
Đài xem lễ [5] họ cao hứng dựng lên 
Nửa chừng thiếu tiền bỏ dở. 
Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió 
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu. 

Những con chó sói lãng phí quan liêu 
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng! 

Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng 
Nhớ “đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu 
Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo 
Đêm nay thiếu cơm thiếu áo. 
Những tên quan liêu Đảng đã phê bình trên báo 
Và bao nhiêu tên chưa ai biết ai hay 
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gày 
Khắp mặt đất 
Như ruồi nhặng 
Ở đâu cũng có! 
Đảng muốn phê bình tất cả 
Phải một nghìn số báo Nhân dân

Tôi đã đến thăm nhiều hố xí cầu tiêu 
Giấy trắng nửa mặt, xé toang chùi đít 
Những người này không bao giờ họ biết 
Ở làng quê con cái nhân dân ta 
Rọc lá chuối non đóng vở học i-tờ! 

Tôi đã đến dự những phiên toà 
Họp suốt ngày luận bàn xử tội 
Những con chuột mặc áo quần bộ đội 
Đục cơm khoét áo chúng ta 
Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ 
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói 
Những mẹ già, em trai, chị gái 
Còng lưng, rỏ máu lấn vành đai! 

Trung ương Đảng ơi! 
Lũ chuột mặt người chưa hết 
Đảng lập đội quân trừ diệt 
- Có tôi! 
đi trong hàng ngũ tiền phong. 

(Trích Giai phẩm mùa Thu tập II 1956) [6] 
 

***

Lời mẹ dặn 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi 
Mẹ tôi thương con không lấy chồng 
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải 
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn. 

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ 
Ngày ấy tôi mới lên năm 
Có lần tôi nói dối mẹ 
Hôm sau tưởng phải ăn đòn. 

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn 
Ôm tôi hôn lên mái tóc 
- Con ơi – 
trước khi nhắm mắt 
Cha con dặn con suốt đời 
Phải làm một người chân thật. 

Mẹ ơi, chân thật là gì? 
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt 
Con ơi một người chân thật 
Thấy vui muốn cười cứ cười 
Thấy buồn muốn khóc là khóc. 
Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét. 
Dù ai cầm dao doạ giết 

Cũng không nói ghét thành yêu

Từ đấy người lớn hỏi tôi: 
- Bé ơi, Bé yêu ai nhất? 
Nhớ lời mẹ tôi trả lời: 
- Bé yêu những người chân thật. 
Người lớn nhìn tôi không tin 
Cho tôi là con vẹt nhỏ 
Nhưng không! Những lời dặn đó 
In vào trí óc của tôi 
Như trang giấy trắng tuyệt vời 
In lên vết son đỏ chói 
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi 
Đứa bé mồ côi thành nhà văn 
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm 
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ. 
Người làm xiếc đi dây rất khó 
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn 
Đi trọn đời trên con đường chân thật. 
Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét 
Dù ai cầm dao doạ giết 
Cũng không nói ghét thành yêu. 
Tôi muốn làm nhà văn chân thật 
chân thật trọn đời 
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi 
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã 
Bút giấy tôi ai cướp giật đi 
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. 

(Trích báo Văn số 21 ra ngày 27-9-1957) 

______________________________________________________ 


[1]Trần Dần sinh năm Bính Dần 1926 (talawas).
[2]Sau phần giới thiệu Trần Dần, trong nguyên bản có hình chụp bìa tập Giai phẩm mùa Xuân 1956, trong đó có đăng bài "Nhất định thắng" của Trần Dần (talawas).
[3]Xem nguyên văn bài thơ gồm 9 đoạn trong Giai phẩm mùa Xuân 1956. Bản đăng trong cuốn sách này có lược bỏ một số câu và nguyên đoạn 6 (talawas).
[4]Trong cuốn Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak có viết: "Muốn chiều cộng sản thì dể lắm. Cứ nói là yêu cái mình ghét, và cứ nói là ghét cái mình yêu". 
[5]Đài xem lễ do ủy Ban thành phố Nam Định dựng lên để các đại biểu đứng xem lễ. Việc này đã bị phê bình ở báo Nhân dân.
[6]Bài thơ còn có một đoạn cuối bị lược bỏ trong sách này. Xem nguyên văn trong Giai phẩm mùa Thu tập II 1956 (talawas)

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.