MẠC ĐỊNH HOÀNG VĂN CHÍ 

TIỂU SỬ 

Hoàng Văn Chí 1913-1988   

 

Ông Hoàng Văn Chí sinh ngày 01-10-1913 tại Thanh Hóa, Trung Việt. Học trường Trung học Albert Sarraut Hà Nội (1928-1935). Đậu Cử Nhân khoa học tại Đại Học Đông Dương (1940). Bút hiệu Mạc-Định. 

Kết hôn năm 1940 với bà Lê Hằng Phấn, ái nữ cụ Sở Cuồng Lê-Dư, có ba người con: một trai, hai gái. 

Tham gia bãi khóa (1926) phong trào "Le Travail" (1936); hoạt động trong đảng Xã Hội SFI0 (1937-1939). 

Tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946, chính thức hoạt động với chính quyền Việt Minh (1949-1953) với tư cách chuyên viên phụ trách đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, thiết lập hệ thống thủy điện. Bỏ Kháng chiến trở về thành (1954). 

Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, di cư vào Nam (1955). Cộng tác với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, làm Phó Lãnh Sự tại Tân Đề Li Ấn-Độ (1959-60). Tự ý dời khỏi Ấn Độ (2/1960) qua Âu Châu lưu trú tại Pháp (1960-1965) bắt đầu viết sách và hoạt động văn hóa. Sang Mỹ từ năm 1965, theo lời mời của Bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ. 

- Tác giả các cuốn sách: "Phật Rơi Lệ" (1956) - "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" (1959) - "The New Class in North Vietnam" - "The Nhân Văn Affair" - "From Colonialism to Communism" (1964). 

- Đóng góp tài liệu hoặc bài viết trong các cuốn sách: "North Vietnam today", "Vietnam Seen From East and West". 

- Nghiên cứu và sưu khảo các tài liệu về chính trị, văn hóa, triết lý cổ kim, Đông Tây, với tham vọng đưa ra một cuốn sách, tổng nhận định về bước tiến hóa của nhân loại, dẫn đến một học thuyết mới, khả dĩ hướng dẫn được chúng ta trong tiến trình kiến quốc và hưng quốc. Cuốn sách này được thực hiện mang tựa đề "Duy Văn Sử Quan" với chương XXI đang viết dở dang năm 1988, thì tác giả từ trần. 

- Công việc đã từng làm: - Biên tập viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) chuyên bình luận về Bắc Việt (1965-69) - Giảng viên về văn-hóa và triết học cho cơ quan Phát-triển Quốc-tế (USAID), cho các lớp huấn luyện ngoại giao, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và một số trường Đại-học Hoa-Kỳ (1970-79). Thuyết trình với các giới thanh niên dưới hình thức thuyết giảng, hội đàm, mạn đàm về các đề tài văn-hóa, giáo dục tại nhiều nơi ở Mỹ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, trong nhiều năm liên tiếp- Thuyết trình trước "Hội-nghị bàn về vấn đề hòa đàm Paris 1973 về Việt Nam" tại Paris, Pháp (1987). 

- Lập xưởng Tương Cự Đà và Thính Quê Hương tại Bắc Hoa Kỳ. Người đầu tiên trồng cà pháo và rau muống trong vườn nhà, gây giống nhiều loại rau Việt Nam hiếm có tại Mỹ. 

- Cố Vấn, và yểm trợ tích cực cho Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, Boat People SOS. 

- Từ trần ngày 6 tháng 7 năm 1988 tại Maryland, Hoa Kỳ, thọ 75 tuổi. 

http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=poNVumkrgBadei40AxwHMg%3d%3d

Trăm hoa đua nở trên đất Bắc

Hoàng Văn Chí 

"... Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết." (Phan Khôi)

Mục lục

Lời tựa

Phần I: Cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc

Chương I: Nguyên nhân cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc 

Chương II: Lịch trình đấu tranh của trí thức ở miền Bắc 

Chương III: Phương pháp đấu tranh của trí thức ở miền Bắc 

Phần II: Tài liệu (Nhân vật và Tác phẩm) 

I. Phái cựu học  Cụ Phan Khôi

  • Giới thiệu cụ Phan Khôi 
  • Phê bình lãnh đạo văn nghệ 
  • Tìm ưu điểm (ngụ ngôn) 
  • Ông Bình Vôi 
  • Ông Năm Chuột (truyện ngắn) 
  • Nắng chiều

II. Phái thanh niên 

Trần Dần 

  • Giới thiệu Trần Dần 
  • Nhất định thắng (thơ) 
  • Hãy đi mãi (thơ)

Phùng Quán 

  • Giới thiệu Phùng Quán 
  • Chống tham ô lãng phí (thơ) 
  • Lời mẹ dặn (thơ)

Tạ Hữu Thiện  

  • Giới thiệu Tạ Hữu Thiện 
  • Tôi tìm em (thơ)

Bùi Quang Đoài 

  • Giới thiệu Bùi Quang Đoài 
  • Lịch sử một câu chuyện tình (truyện ngắn) 
  • Chủ nghĩa nhân văn của ông Hoàng Xuân Nhị (bút chiến

Minh Hoàng 

  • Giới thiệu Minh Hoàng 
  • Đống máy (truyện ngắn)

Phùng Cung 

  • Giới thiệu Phùng Cung 
  • Con ngựa già của chúa Trịnh (truyện ngắn)

Trần Lê Văn 

  • Giới thiệu Trần Lê Văn 
  • Bức thư gửi một người bạn cũ

Hoàng Tích Linh 

  • Giới thiệu Hoàng Tích Linh 
  • Xem mặt vợ (kịch ngắn một hồi) 
  • Cơm mới (kịch một hồi)

III. Các nhà văn đứng tuổi 

Tồ Hữu 

  • Giới thiệu Tố Hữu 
  • Bài ca tháng Mười (thơ) 
  • Đời đời nhớ Ông (thơ)

Nguyễn Tuân 

  • Giới thiệu Nguyễn Tuân 
  • Phở (tuý bút) 
  • Phê bình nhất địnnh là khó 
  • Nguyễn Tuân tự phê bình

Văn Cao 

  • Giới thiệu văn Cao 
  • Anh có nghe không (thơ) 
  • Những ngày báo hiệu mùa xuân (trích trong bài thơ dài “Những người trên cửa biển”)

Trần Duy 

  • Giới thiệu Trần Duy 
  • Những người khổng lồ 
  • Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ

Hoàng Cầm 

  • Giới thiệu Hoàng Cầm 
  • Em bé lên sáu tuổi (thơ) 
  • Tiếng hát (trích 2 đoạn trong hồi thứ nhất vở kịch thơ dài Tiếng hát Trương Chi)

Hữu Loan 

  • Giới thiệu Hữu Loan 
  • Cũng những thằng nịnh hót (thơ) 
  • Lộn sòng (truyện ngắn)

Sỹ Ngọc 

  • Giới thiệu Sỹ Ngọc 
  • Làm cho hoa nở bốn mùa 
  • Bất mãn

Chu Ngọc 

  • Giới thiệu Chu Ngọc 
  • Chúng ta gắng nuôi con (hoạt cảnh)

Như Mai 

  • Giới thiệu Như Mai 
  • Thi sĩ máy

IV. Các nhà học giả 

Đào Duy Anh 

  • Giới thiệu Đào Duy Anh 
  • Muốn phát triển học thuật

Trần Đức Thảo 

  • Giới thiệu Trần Đức Thảo 
  • Nội dung xã hội và hình thức tự do 
  • Nỗ lực phát triển tự do dân chủ

Nguyễn Mạnh Tường 

  • Giới thiệu Nguyễn Mạnh Tường 
  • Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo 
  • Vừa khóc vừa cười  

 

Lời tựa 
 
Trăm hoa đua nở, Trăm nhà [1] đua tiếng là dịch nôm câu chữ Hán: Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh, trong cổ văn. 
 
Đây là một câu mà các học giả đời Hán đặt ra để vừa ca tụng vừa tỏ ý luyến tiếc nền văn học cổ điển của Trung Quốc, sáng ngời trong mấy thế kỷ trước, về thời Đông Chu. 
 
Văn học Trung Hoa về thời Đông Chu quả thật xứng đáng cho các thế hệ sau ca ngợi, vì trong vòng ba thế kỷ (từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch kỷ nguyên), các học giả thời Đông Chu đã đưa nền văn học Trung Quốc từ chỗ thấp nhất đến chỗ cao nhất mà hai nghìn năm sau, không tài nào vươn tới. 
 
Gần như cùng một lúc, Lão học, Khổng học và Mạc học đua nhau ra đời, tiếp theo là những học thuyết uyên thâm của Mạnh Tử, Tuân Tử và Dương Chu. Có thể nói được rằng hầu hết các lý thuyết hiện nay còn đương tranh giành ảnh hưởng trong nhân loại, như chủ nghĩa dân chủ, lãng mạn, vô chính phủ, duy vật, xã hội, quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, phát xít, v.v... đều đã có đại diện từ thời bấy giờ. Tính theo thời gian thì nền văn học Trung Quốc đã bỏ xa nền văn học Âu châu vào khoảng 20 thế kỷ. 
 
Vì vậy nên ngày nay, những học giả nghiên cứu về lịch sử văn hoá Á đông đều phải thắc mắc về một điểm: Tại sao một nền văn hoá đương phát triển một cách tốt đẹp như vậy lại bỗng nhiên đứng dừng lại, khiến trong suốt hai nghìn năm về sau, Trung Quốc chỉ có lùi mà không có tiến về phương diện tư tưởng? 
 
Ông Tibor Mende, một nhà học giả Tây phương, chuyên nghiên cứu về các vấn đề Á đông, đã ví nền văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ như hai con sông lớn, đã mang sinh lực tưới khắp miền Đông Nam Á, bỗng dưng bị cạn hết nước. Nguyên nhân gì đã làm tịt ngòi? Ông nêu ra câu hỏi mà không trả lời. [2] 
Nói một cách rõ ràng hơn thì: Tại sao về thời Đông Chu lại có Khổng, Mạnh, Lão, Mạc,.. mà hai nghìn năm sau không có vị thánh hiền nào cả? Hoặc dùng một hình ảnh tượng trưng thì: tại sao trong một thời đại loạn ly như thời Xuân Thu, Chiến Quốc, trăm hoa lại đua nở mà từ thời ấy về sau hoa lại không nở? 
 
Chúng tôi nghĩ rằng nếu ôn lại lịch sử chính trị Trung Quốc, chúng ta có thể tìm ra câu giải đáp. 
 
Về thời Đông Chu, Trung Quốc bị phân chia thành nhiều nước chư hầu, luôn luôn đánh nhau để tranh giành ngôi bá chủ, nên nước nào cũng lo thu phục nhân tài để mở mang thế lực. Vì vậy nên kẻ sĩ đương thời được trọng đãi. Một mặt khác vì nước nào cũng yếu, nên không ông vua nào có đủ quyền lực để thiết lập chế độ độc tài. Do đó ngôn luận không bị kiềm chế vì các nhà học giả, nếu chẳng may bị vua chúa trong nước khủng bố vì tội đã phát biểu một ý kiến trái ngược với đường lối của triều đình, thì cũng dễ dàng vượt biên giới chạy sang nước đối nghịch, có người sẵn sàng dung nạp ngay. Vì vậy nên mới có quang cảnh "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". Nếu hoa không nở được ở khí hậu này, có thể nở được ở khí hậu khác. Nếu một học giả không phổ biến được tư tưởng của mình ở Tề, thì có thể di cư sang Sở chẳng hạn, để truyền bá học thuyết của mình. 
 
Thời Đông Chu tuy là một thời loạn lạc, nhưng chính vì loạn lạc mà tư tưởng không bị kiểm soát. 
Trái lại, sau khi Thương Ưởng đưa ra thuyết quân chủ chuyên chế và Lý Tư, học trò của Thương Ưởng giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, thì từ ngày ấy về sau không một vị thánh hiền nào xuất hiện trên đất Trung Quốc nữa. Một lẽ rất dễ hiểu là không có tự do tư tưởng thì không có nhà tư tưởng, cũng như hễ không có nước thì không thể nào có cá được. 
 
Lý Tư, môn đệ của phái Pháp gia, được Tần Thuỷ Hoàng bổ làm Thượng thư, làm sớ tâu đại khái như sau: 
 
"Từ trước tới nay, thiên hạ sống trong cảnh phân chia, nên tư tưởng bị hỗn loạn... Ngày nay Bệ hạ đã thống nhất sơn hà mà vẫn còn nhiều người ngang nhiên mở trường dạy học, mang ý kiến riêng của mình ra chê bai luật pháp và chính sách của triều đình... Nếu Bệ hạ không mau ngăn cấm thì kỷ cương sẽ sụp đổ từ trên xuống dưới và đảng phái sẽ mọc từ dưới lên trên." 
 
Năm 213 trước Tây lịch, Tần Thuỷ Hoàng nghe theo Lý Tư đốt hết sách vở có phương hại đến đường lối của Tần triều và chôn sống 460 nhà trí thức đối lập. [3] Họ bị chôn sống vì bờ cõi của đế quốc Tần rộng quá, không tài nào chạy thoát. Từ ngày ấy Trung Quốc có một chính phủ duy nhất, một luật pháp duy nhất, nhưng cũng có một lối nghĩ duy nhất. Trăm hoa hết đua nở và trăm nhà đều im tiếng. 
 
Sau Tần đến Hán. Các vua triều Hán, khôn ngoan hơn vua Tần, không cấm đoán tư tưởng, nhưng hạn chế tư tưởng bằng cách đưa Khổng giáo lên địa vị quốc giáo, khiến các học thuyết khác phải lùi bước. Triều đình chỉ tuyển lựa những người thông hiểu Ngũ kinh, Tứ thư để bổ làm quan lại, nên Nho học trở thành bậc thang cho giới trí thức bước lên đàn sĩ hoạn. [4] Nhưng cũng vì vậy mà triết lý của Khổng Tử bị xuyên tạc và Khổng học chỉ còn là một lợi khí của giới thống trị. Nói theo kiểu cụ Phan Khôi thì "Trăm hoa" đã trở thành hoa cúc vạn thọ hết thẩy. [5] 
 
Suốt trong 20 thế kỷ về sau, trí thức Trung Hoa luôn luôn bị khủng bố. Tư Mã Thiên bị thiến, Ban Cố bị chết trong ngục, Phạm Việp vị xử tử... cho đến người cuối là Lương Khải Siêu, phải chạy sang Nhật Bản mới thoát thân. 
 
Từ ngày ông Mao Trạch Đông lên kế nghiệp Tần Thuỷ Hoàng, ông đã giết Hồ Phong, và nhiều học giả khác, nhưng gần đây ông lại tuyên bố cho phép "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". 
Không ai biết rõ chủ định của ông Mao như thế nào, nhưng mọi người đều nhận thấy rằng trên toàn cõi Trung cộng hiện nay, không có thứ hoa nào khác hơn là hoa Mác-Xít. 
 
Tóm lại dù là chuyên chế kiểu quân chủ hay kiểu cộng sản, chế độ tập quyền vẫn tiêu diệt tự do tư tưởng. Ngày nay cũng như suốt hai nghìn năm về trước, trí thức Trung Hoa vẫn bị bịt mồm, bịt miệng. 
 
Từ ngày Bắc Việt trở thành một "vệ tinh" của khối cộng sản, trí thức ở Bắc Việt cũng lâm vào tình trạng chung của đồng bạn ở khắp trong bức màn sắt. 
 
Nhưng "40 năm một thuở", trong dịp hạ bệ Stalin vừa qua, họ đều đứng dậy đấu tranh chống Đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng. Trong phong trào quật khởi này, trí thức ở Bắc Việt cũng đã góp một phần quan trọng. Suốt trong thời gian hai năm, 1956 và 1957, trí thức ở miền Bắc đã sản xuất trên một trăm bản văn có giá trị. Cộng sản coi những bản văn ấy là những "cỏ độc", nhưng chúng tôi coi những tác phẩm của họ như một "trăm hoa" thực sự. 
 
Vì vậy nên chúng tôi sưu tầm và kết lại thành một "bó hoa" để cống hiến độc giả, hòng góp sức vào công việc làm sáng tỏ thêm nền văn học hiện đại của dân tộc Việt Nam. 
 
Đối với độc giả trong Thế giới Tự do chúng tôi cũng muốn nói một câu: Không nên nghĩ rằng cần phải chuyên chế mới có đủ phương tiện để thực hiện những công trình vĩ đại, vì xưa kia Tần Thuỷ Hoàng cũng đã thực hiện những công cuộc vĩ đại, xây đắp Vạn lý Trường thành, thiết lập xa lộ, thế mà nhà Tần vẫn bị mất nghiệp; một mặt khác, chính vì Tần Thuỷ Hoàng khởi đầu việc đàn áp tư tưởng mà văn hoá Trung Quốc đã bị đứng dừng trong hai ngàn năm nay. Lợi nhất thời không bằng hại muôn thuở. 
 
Saigon, tháng Giêng 1959 
Hoàng Văn Chí 
Trưởng ban biên tập của 
Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá